July 28, 2014      16:06

You are here

Thơ: AN ĐÌNH TRẦN KINH - Trần Thị Cẩm Tuyến


Trần Thị Cẩm Tuyến
84

22

0

0

 

 

      (1888-1966)

      (Trong Hương Bình Thi Xã)

      Đọc tuyển tập Nhớ  Huế 1994-1995, qua các bài viết về thơ của Thi Ông Thúc

      Giạ và cụ  Thảo Am, chúng tôi vô cùng xúc động tưởng nhớ đến hình ảnh

      Phong  Nho Thân Kính của quý cụ trong HBTX, đã từng lui tới viếng thăm,

      họp hội, xướng hoạ, với  thân phụ chúng tôi là  cụ An Đình Trần Kinh ở 

      đường Lê Lợi Huế, trong các thập niên 50 và  60.

      

             Qúy Thi Ông trong Hương Bình Thi Xã - Huế 1954

 

       

      Chúng tôi có may mắn lưu giữ được khá   nhiều thơ sưu tập từ năm 1925 đến

      1965 qua quyển thơ tựa đề An Đình Thi Tập  gồm trên 500 bài thơ sáng tác,

      cảm hứng, xướng hoạ. . .

      Giới hạn trong bài này, chúng tôi xin chọn vài vần thơ phản ảnh nguồn cảm

      hứng của thân phụ chúng tôi qua thế sự thăng trầm, cùng những kỷ niệm vui

      buồn với quý Thi Hữu trong HBTX.  

      

      Xuân Tân Mão (1951)

      Tưởng  năm Tân Mão có gì vui,

      Té cũng xuân kia tới với  lui,

      Cọp mới hung hăng lìa khỏi ngõ,

      Mèo đà rón rén, chực trên rui.

      Vô ra thôi cũng  loài nanh vút,

      Khao khát lâu nay miếng béo bùi.

      Tết nhứt, chiên xào nhiều cá thịt,

      Ngao! Ngao! Chi khỏi mỡ nhoèm mui!

       

      Bài ni cùng với nhóm HBTX dự  cuộc thi thơ do Liên Thành thị xã Phan Thiết

      tổ chức. Đề Mèo tới, Cọp lui. Vận : lui. Hội đồng khảo thí do Cụ Thúc Giạ

      chủ toạ đã chấm giải nhất, Bình hạng (12 khuyên).

      Qua bài vịnh Tết Nhâm Thìn(1952) có mấy câu :

      . . . . . . .

      Mèo ngao xó bếp nghe đã chán,

      Rồng lượn trên mây, khéo  đặt bày !

      Nêu chẳng thấy trồng, tre thấy đốn,

      Pháo không nghe đốt,  đạn nghe bay!

      . . . . . . .

      Gợi cảnh quê hương đang bị tàn phá bởi chiến tranh.

      

      Các bài sau đây có ý trào lộng thời cuộc loạn ly, xã hội văn minh Âu Á lẫn

      lộn. . . 

      

      Hoa Sen Cắm Bình vỏ Mọt - Chê (1953)

      Cảm vịnh :

      Bình Sen, kiểu mới lạ chưa tề,

      Nhìn kỹ, ờ ra vỏ mọt chê.

      Cạnh đỏ, tua vàng, xem vẫn đẹp,

      Dáng bom, hình đạn ngó mà ghê

      Hoa kia ví biết nhường nông nổi,

      Sắc nọ, e chừng phải ủ ê

      Một lọ danh ba, chưng trước án,

      Buồn vui chi khéo gợi lòng quê  

      

      Hý Vịnh :

      Khen ai khéo  kết cái bu-kê (Bouquet)

      Đem cắm vào bình vỏ mọt chê (Mortier)

      Búp nở mấy chồi hình cát tút (Cartouche)

      Tía hồng đủ vẽ tựa phuy-dê (Fusee)

      Hương trời ai lại không công-tắng (Content)

      Sắc nước lòng nào chẳng tút-sê (touche)

      Uống rượu xem hoa, chơi cũng sít (Chic)

      Thảo nào lắm bạn muốn đăng-xê (dancer)

       

      Xe Xích Lô (1954)

      Ai khéo xích lô chế kiểu xe

      Thay cho " bút bút *" nguỵ chưa tề !

      Cong lưng ráng súc hai chân đạp,

      Nạt chúng ra uy mấy tiếng ,Ê !

      Làm ngựa  trước đà xem quá chán,

      Lên yên, nay cũng ngó ra bề,

      . . . . . . . 

      *Bút- bút =pousse - pousse=xe kéo  

      Trung Thu Mậu Tuất (1958)

      

      Gặp tiết trung thu, nhớ chị Hằng 

      Khiến người ngoạn nguyệt, những băng khoăn.

      Muốn theo bút-nít (spounick) lên cung quế

      Cậy có Lai-Ka (chó Laika) dẫn lối đàng !

      Nhưng mới nghe đâu tàu chết máy

      Nên đành, hoãn lại cuộc chơi trăng !

      . . . . . . .

      

      Trời ,( Nói thay ông Trời )(1958)

      Ngó xuống trần gian quái lạ thay,

      Hung hăng toan tính chuyện gì đây?!

      Thủy lôi, phi đạn lung tung nổ,

      Hoả tiễn, hành tinh, rộn rịp bay

      Đem đất cung trăng ra đấu  giá,(1)

      Chiếm nơi không phận, chực chia tay (2)

      Bán trời rõ thật không văn khế,

      Chẳng sợ ai thưa, chẳng sợ rầy !

      

      (1)Theo các báo thời Nhật Bản mở một ngân hàng bán đất trên mặt trăng.

      (2)Liên hiệp quốc thảo luận giới hạn trên không trung.  

      

      Cũng  nhờ qua thi thơ xướng hoạ, quý cụ đã ghi lại một cách thần tình rất

      nhiều diễn tiến trong xã hội, từ phạm vi nhỏ hẹp của cá nhân, gia đình,

      bạn hữu, qua các bài Vịnh Xuân, Mừng Sinh Nhật, Chúc Thọ, Hỷ Tín, Ai Điếu.

      . . , đến hoạ chiến tranh của nước nhà, thời thế đổi thay . . . cũng như

      chuyện phát minh khoa học trên thế giới . . .

      Có một lần không nhớ rõ là thân phụ tôi  hay một cụ trong HBTX đã Vịnh

      Thống Chế Petain qua bốn câu thơ, lời giản dị nhưng tứ rất thâm trầm, chỉ

      nghe qua một  lần là nhớ mãi :

      Cứu quốc xưa kia tiếng nổi thời,

      Mà nay bán nước, cũng ông  thôi !

      Sao không chết sớm tròn danh tiết,

      Đa thọ chi thêm nhục để đời ! (1)

      Học sinh thời trước đó ai mà không thuộc lòng bài Marseillaise hát mỗi

      sáng trong buổi chào cờ, tiếp theo là suy tôn.

      Maréchal nous voilà…

      (1)Ông Henry Philippe Pétain (1856- 1951) trong thế chiến thứ nhất là một

      vị anh hùng nổi danh của nước Pháp, được suy tôn và vinh thăng chức Thống

      Chế. Nhưng qua thế chiến thứ II ông bị kết án tội phản quốc thân Đức. Ông

      Pétain chết trong tù lúc 91 tuổi.

      Năm 1925 Cụ An Đình có xuất bản một tập thơ tựa đề Quảng Bình Địa Dư tiện

      đọc, soạn cho Học sinh Tiểu học. Tập thơ này gồm 12 bài thơ, mô tả : Địa

      thế, Núi sông, Khí hậu … Phong tục, Danh nhân, Cổ tích. Biên soạn dẫn giản

      rất công phu.

      Trong thời gian nhậm chức Đốc học tại các tỉnh thân phụ tôi đều có thơ ghi

      lại các di tích tại địa phương. Ví dụ

      Tại Quảng Bình thì có các bài :

      Động Đông Pha.

      Sông Gianh Hoài Cổ.

      Luỹ Trấn Ninh Hoài Cổ  (Luỹ thầy do cụ Đào Duy Từ xây đắp ).

       

      Tại Bình Định có bài :

      Chùa "Ông Núi" (Linh Phong Tự).

      Sông Lại Giang (Sông Bồng Sơn).

       

      Tại Nghệ Tỉnh có kỹ niệm viếng thăm các thắng cảnh.

      Đền Chào ở Sơn triều

      Lâm Thành : phế luỹ ở Đèo Ngang.

      Vũng Chùa

      Phong Cảnh Núi Nài

      Núi Nam Giới và Đền Chiêu Trưng tại Cửa Sót.

       

      Tại Quãng Ngãi thì có:

      Quãng Ngãi Thập Cảnh (Thiên Ấn, Thiên Bút, Cổ Luỹ Cô Thôn . . . )

      Biển Sa Huỳnh

       

      Và tại Bình Thuận thì viếng cảnh:

      Lầu Ông Hoàng (Duc de Montpensier)

      Lăng Thái Giám và Tháp Chàm.

       

      Trở lại thập niên 50 là thời gian quý Thi Ông tại đất Thần Kinh có nhiều

      Kỷ niệm đáng ghi nhớ. Nhờ  bài thơ Kỷ niệm Nhất-Chu-Niên Làng thơ Hương

      Bình mà chúng tôi biết được HBTX thành lập vào năm 1951.

      Giữa tiệc chu niên, họp đủ làng,

      Thi đề kỷ niệm tiếng chuông vang.

      Xuân Thu tính chẳn mười hai tháng

      . . . . .

      Thi hồn quốc vận, giây liên hệ,

      Suy thịnh xưa nay… khỏi phải bàn.

      Nhâm Thìn 1952.

      

      Cũng trong năm 1951 Quý Cụ xôn xao làm thơ mừng lễ sanh Điếu Cụ Thúc Giạ.

      Bài của cụ An Đình như sau:

      Câu đối:

      Rượu tỉnh thơ say, cốt cách thần tiên, tình Thúc Giạ.

      Trăng trong gió mát, tiêu diêu non nước, thú Vương Tôn.

      Thơ:

      Sanh tặng bao phen đủ cả rồi,

      Phen này sanh điếu, thử coi chơi,

      Thềm rồng chín bậc, lên hơn tám,

      Tuổi hạc mười mươi, thiếu cợ vài.

      Chén thọ nay xin dâng trước án,

      Văn ai, sau khỏi tế cho ruồi.

      Thơ tình Thúc Giạ, tay lần giở,

      Lai láng tình xưa, chuyện khóc cười!

      Ca Trù :

      Đại Đức Giả Thọ.

      . . . . .

      Văn học uyên thâm, nhà sẵn nếp,

      Tài ba lỗi lạc tiếng đồn xa

      Mấy mươi  năm, bể hoạn xông pha

      Khi Hồng Sơn, khi Lệ Thuỷ

      Khi Đông Hải, khi Bắc Hà

      . . . . .

      Chốn Lộc đình chén rượu câu thơ

      Tuồng Lộ Địch, đào tơ xướng hát

      . . . . .

      Phong lưu ai dể tày Ông!

      

      Kỷ niệm xướng hoạ về cụ Thúc Giạ thật nhiều không kể xiết, qua các bài:

      Trùng Cửu Ất Sửu (Hoạ Nguyên vần Thơ Cụ Thúc Giạ, Án Sát Quảng

      Bình)(1925).

      Viên đá ba sinh (1960)(mừng cụ Thúc Giạ khỏi bệnh sạn thận.)

      Khóc điếu Thúc Giạ Tiên Sinh (1961)

      Đọc tiểu sử Ưng Bình do Cụ Phù Giang ấn soạn.

      Hoạ bài "Kỷ niệm cha từ trần" của cô Hỷ Khương (1961)

      Tiểu tường cụ Thúc Giạ (1962)

      Kỷ niệm xướng hoạ với cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi cũng khá nhiều.

      Sau đây là bài hoạ nguyên vận của cụ Thảo Am.

      

      Tám Mươi Ba Tuổi Tự Trào(1963)

      

      Tính Tuổi thì nay mới tám ba,

      Chín mươi thiếu bảy có bao là!

      Cửu tuần ăn trước, vui cùng trẻ

      Bách tuế chờ sau, sợ quá tra

      Cam chi, con cháu bày chật tiệc,

      Thi ca bạn hữu đọc oang nhà.

      "Đăng quang'' theo lệ thường thêm tuổi,(1)

      Bắt chước mà chơi lễ thọ ta.  

      

      (1)- "Đăng quang" là lễ tôn Vua lên ngôi. Theo lệ xưa một khi “đăng quang"

      mà vua còn nhỏ tuổi thì Triều Đình dâng thêm một hay hai tuổi.

      Nhớ lại thập niên 50, chúng tôi còn trong tuổi học trò nên còn ở cận kề

      phụ mẫu. Hội ngâm HBTX họp thường kỳ mỗi tháng do quý cụ thay phiên thiết

      đải theo dõi, ngoài ra có những việc vui bất thường như Hiếu Hỷ, Tân gia,

      Du lịch, hay nhà có hoa Quỳnh nở . . . quý cụ cũng ra đề tài mời xướng hoạ

      ngâm vịnh. Do đó cứ trung bình 3 đến 5 tháng thì chúng tôi có việc phục vụ

      cho Hội ngâm thơ một lần tại tệ xá.

 

      Trước ngày hội họp, các em trai chúng tôi có phận sự đạp xe đem thơ mời đến nhà Cụ Thúc Giạ ở Vĩ Giạ, Cụ Thiếu

      Đào ở Đập Đá, Cụ Bích Hiên trong chợ Cống, Cụ Thảo Am bên Gia Hội, quý cụ

      Hòe Đình, Sa Minh, Mục Tử, Quỳ Ưu.v.v. . Ngày hội họp, chúng tôi lo hầu

      tiếp rượu trà và được phép…lấp ló sau bức bình phong lóm nghe quý cụ xướng

      hoạ, ngâm vịnh. Không khí lúc nào cũng rộn ràng, sôi nỗi. Đặc biệt những

      dịp có Cụ bà Trần Thanh Mại hoặc Cô Hỷ Khương ngâm vịnh thì thật là tuyệt

      thích!

 

      Tuổi già của quý cụ thật là nhàn nhã phong lưu. Lúc sắp về hưu, thân phụ

      chúng tôi có bài lưu giản :

 

      Bể hoạn mừng nay đã đến bờ,

      Thoả lòng rày ước với mai mơ!

      Gió xuân, mưa hạ, ơn đầm thấm,

      Nước trí, non- nhơn, cảnh đợi chờ.

      Đèn sách duyên ưa, khi tuổi trẻ,

      Công danh đường rộng, lối năm xưa,

      Rồi đây tùng cúc, ngày thong thả,

      Bạn tác  vui vầy, thú rượu thơ.

      Thân phụ chúng tôi ngoài thú rượu thơ, bạn tác vui vầy, còn thích trồng

      hoa kiểng và ngao du sơn thuỷ.

      Mở tiệc ngắm hoa Quỳnh nở vào đêm khuya thanh vắng, Cụ cảm tác:

      Hoa xem đầu bạc chớ cười,

      Biết chăng đầu bạc là người trồng hoa!

       

      Những cuộc du lịch ngoại quốc được Cụ ghi qua bài thơ "Thú Giang Hồ"

              Ca trù :

                       Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí

               Nhân bất phong sương vị lão tài.

               Thú giang hồ, nào có riêng ai ?

               Vững tay lái cứ chèo bơi cho phĩ sức

               Ngoài ngàn dặm, Đông Tây Nam Bắc

               Nào Phù Tang, Lữ Tống, nào Vọng Các, Nam Vang

                  . . . . .

               Thú hồ hải những bao phen mơ ước

               Lúc tuổi già, mà hưởng được cũng hay hay.

               Đi cho biết đó biết đây

       

            Qua thập niên 60, Thi hữu HBTX lần lượt ra đi, kỷ niệm qua các bài

      ai điếu sau đây:

     

 

      Ai Điếu Hòe Đình Thi Hữu.(1960)

       . . . . .

      Bầu rượu hải hồ, chưa chuốc cạn,

      Túi thơ phong nguyệt, nở vùi chôn !

      Tôi đi Vọng Các, tôi về lại,

      Bác viếng Sài Thành Bác ở luôn !(1)

       

      (1)Trong khi Cụ Hòe Đình vào Sài gòn chơi, thì cụ An Đình đi du lịch Vọng

      Các. Sau đó về Huế được mười ngày thì nghe tin Cụ Hòe Đình đã tạ thế ở Sài

      thành.

       

      Ai Điếu Tống Nguyên Tiên Sinh (1960)

      

      Hết điếu Hoè Đình đến Tống Nguyên,

      Làng thơ ngơ ngác hoá như điên!

      Trong vòng ba  tháng đưa hai đám!

      . . . . . .

      Kẻ mất người còn gây nổi nhớ,

      Câu thơ chén rượu, gợi cơn phiền!

       

       Ai Điếu Thúc Giạ Tiên sinh (1961)

      

      Ơi ông Thúc Giạ, hởi ông ơi ! 

      Nở bỏ Hương Bình, bọn chúng tôi!

      Đem khối văn chương, chôn chặt đất,

      Trút kho phong nguyệt ném tung trời!

      Người về tiên cảnh vui bao nhỉ,

      Kẻ ở trần gian, tẽ bấy thôi!

      . . . . .

      Ai Điếu Thi hữu Dương Chi (1961)

      

      Sáu mươi ba tuổi đã già chi?

      Tiên cảnh về chơi, sớm quá ri?

      Bởi chán trần gian không muốn ở

      Hay thương Thúc Giạ, vội ra đi?

      Người còn kẻ mất, buồn bao nổi,

      Chén rượu câu thơ, nhớ những khi!

      . . . . .

      Thân phụ chúng tôi qua đời năm 1966. Nhiều bài ai điếu của quý cụ trong

      HBTX gởi đến phân ưu. Chúng tôi trân trọng lưu giữ trong tủ sách An Đình.

      Có mấy bài tuyệt tác chúng tôi kính cẩn trưng trên bàn thờ, những mong hồn

      thiêng của cụ sẽ về thưởng thức, ngâm vịnh với thi hữu như lúc sinh thời.

      Để kết thúc, bài thơ Tình Non Nước sau đây diễn tả tâm tình chung của mọi

      người dân Việt đương thời! Hận đất nước bị chia cắt! Mong ngày Hoà Bình

      Thống Nhất.

      

      Tình Non Nước (1964)

      Non cao vời vợi, nước xanh xanh,

      Nọ nước, kìa non, gợi mối tình

      Chim hót đầu non gây nỗi nhớ,

      Trăng lồng đáy nước, rọi đêm thanh.

      Trường Sơn một dãy, ai chia rẽ?!

      Hãi thuỷ đôi bờ, hận giới  ranh!

      Thống nhất sơn- hà, mau sớm liệu

      Máu sông, xương núi, ngó sao đành!

      

      Quý cụ và toàn thể dân Miền Nam Việt Nam đâu có ngờ rằng ngày thống nhất

      sơn hà chưa kịp đến thì đã bị Việt Cộng Miền Bắc xâm lăng! Nước Việt Nam

      đã đau khổ vì chiến tranh, càng đau khổ gấp bội vì hoạ Cộng Sản. Máu tràn

      sông, xương ngập núi, gia đình ly tán, và mối sầu xa xứ của bao kẻ tha

      hương thật không bút mực nào tả xiết!  

 

            Tại Vườn Hồng Biệt Trang An Đình 1950

             Du lịch Nhật Bản

            1956

             Thư pháp

            Vịnh hoa Quỳnh