July 28, 2014      08:59

You are here

Văn: Chuyện Từ Bức Tranh Xuân - Hồ Ý


Hồ Ý
63

8

0

1

Hồi Ký H.O. 25

         Có những chuyện không ngờ mà tạo nên thành chuyện để nói khi ngồi lại với nhau, viết lại cho nhau: chuyện trong trại cải tạo mùa xuân 1975.  Với mình, với tụi mình chuyện thật là lạ phải không QDT, NVB, TQL, MTD.

         Những tấm lịch cuối cùng của năm, mỗi lần đặt tay lên bóc bao giờ mình cũng nghe một thứ cảm giác thấu xương của ngục tù ở mùa xuân năm ấy: 1976.  Chuyện lao trung chi lao-nhà tù trong nhà tù- của năm đứa mình nhốt riêng trong một thùng sắt kín (container) của trại tập trung cải tạo đầu tiên Cần Thơ (TĐ 33).

         Mấy tháng đầu trong trại tập trung thật khô khan và đơn điệu từng ngày: lao động, nhồi nhét tư tưởng, ai cũng cảm nhận thứ rã rời và căng thẳng.  Bạn bè trong phòng đề nghị mình vẽ tranh chơi.  Màu, sơn đâu có, không sao, mình tìm giấy màu xé ra từng mảnh nhúng nước cơm sôi để nguội dán lên vách tường.  Ngày ngày, làm làm, một chút, một chút, cả ngoài tháng trời mới xong.  Cả phòng như cùng vẽ với mình, ai gặp tấm giấy nào có màu sắc là đem lại cho mình, đến phiên ai nấu cơm cũng không quên chắt nước cơm vào chén để dành cho mình làm tranh.  Hình tượng mỗi lúc một ra nét, ra dáng, thôi thì đề nghị thêm chút này, được chút kia, nhất là phần vòng đo số 1, số 2, số 3 (ngực, eo, mông) được lưu ý nhiều hơn cả-vẫn còn là lính mà.

         Xong rồi, bức tranh cô gái Thượng lớn bằng người thật, mơn mởn, tươi trẻ, gió lộng cánh  áo tung bay phơi phới, chiếc ngực trần ngọt ngào, tươi mát xoa dịu được đôi chút tâm sinh lý thường tình.

         Rồi anh em khai thác cô gái Thượng mỗi người mỗi khía cạnh riêng tư, mong sao tạo nên chuỗi cười, tạo nên ý vị, tạo nên sâu sắc… và sự tạo nên của TQL đã bị lưu ý:  “Cô gái Tây Nguyên sau ngày giải phóng”.  Không ngờ gặp phải thứ miệng lằn lưỡi mối của kẻ xấu đã bóp méo, vo tròn thành “Người Tây Nguyên sau ngày giải phóng áo không đủ che ngực, lòi tay, lòi chân ra ngoài…”.  Thế là hai đứa; đứa thứ ba là QDT, vì nó quá giỏi, quá tài trí, đám đông nào cũng rước nó nói chuyện, luận đề nào cũng hấp dẫn người nghe thành thử trở nên đối tượng nguy hiểm.  Đứa thứ tư và thứ năm là NVB và MTD, mình với đoàn múa lân không chịu lên múa chúc xuân cho đám quản trại, chỉ chung vui với anh em, sau đó chất củi đốt lân, trả lân về trời.  Sĩ quan là tiểu tướng thừa thiên mệnh mà, lân là Thiên cẩu, cùng một thế giới trên cao chơi với nhau há đâu trộn lẫn với…

         Chừng đó tội với năm đứa mình đủ để bị nhốt vào thùng sắt (container), nhốt đúng 91 ngày, suốt mùa xuân 1976 nằm trong hỏa ngục bóng tối.  Tụi mình còn nhớ quá rõ:

         … Nóng quá.

         Nắng bên ngoài thùng sắt phải là nhiều lắm.  Mồ hôi trên thân xác mỗi đứa đổ vã ra không ngơi nghỉ, khô thấm không kịp ráo.  Khô cổ, khát nước nhưng đâu có uống nhiều, vừa đủ nghe ở đầu lưỡi, trên môi.  Một cảm nhận ngũ giác như bị giới hạn.

         Nắm cơm muối buổi sáng nó thẩy vào là trời bắt đầu nóng, và lần thứ hai vào xế chiều còn hầm hơi đến gần nửa đêm.  Quá khuya là đi vào cái lạnh, sương đẫm vào thùng sắt dày bên ngoài làm nhiệt độ đổi thay, khí bên trong dường như loãng đi khó thở.  Tội nghiệp QDT, lên cơn suyển kéo đàn cổ khò khè, không êm dịu chút nào làm tụi mình mở mắt trong bóng đêm.  Tình trạng này phổi đứa nào lần lửa cũng đầy hơi nước mà bệnh luôn.  Giá như cái lạnh của đêm trộn đều cho cái nóng của ngày thì quí biết chừng nào.

          Cứ ngỡ một tuần mà dài ra cả tháng trời.  Qua tháng thứ hai.  Qua luôn tháng thứ ba, con đường đến với cõi chết như ngắn lại.  Thùng sắt kế cận và bên kia đã có mấy đứa tới đích rồi.  Thùng sắt tụi mình như nặng vía quá trôi đi chậm hơn.  Cái nghĩ suy tụi mình chắc không khá hơn tên tử tù nằm đợi.

         Cái sống chết mong manh cứ bám sát tụi mình khi nửa đêm, khi rạng sáng, tiếng khua xích khóa vang lên ở cửa thùng sắt, là thân phận tụi mình như chuẩn bị cho quỉ dữ kéo đi hành xác.  Cái đòn khai thác hiểm độc cứ kéo dài ngày lại ngày, trong bóng tối, bên mương rạch, nòng súng lạnh ngắt ở gáy, giọng hạch sách bắt phải nhận tội, phải khai báo, khiến cho thần hồn lẫn thần xác mỏi mệt rã rời, có đôi lúc sau tiếng kéo đạn lên nòng của cây súng AK khô khan, nó chỉ bấm nhẹ là rơi xuống dòng nước gọn gàng, xuôi đi một cuộc sống chắc dễ chịu hơn.  Nghĩa khí đời trai khi đối diện với kẻ thù mới thấy rõ nét, và hình ảnh ngọn lửa thiêng nung thép kiếm lung linh rực sáng như phát lời nhắn nhủ:  Tổ Quốc, Danh dự và Trách nhiệm.

         Sau một lần gọi lên rồi trả về, từng đứa, trong bóng tối, tụi mình, tám bàn tay sờ lên thân xác kẻ vừa bị hành tội đang mềm nhũn, lặng lẽ tựa thân vào thành thùng sắt rịn nước.  Bàn tay nào cũng tìm thấy cái u nần, cái rướm ướt trên thịt da… không đứa nào hỏi một câu mà lòng se thắt chín chiều…

         …Tội nghiệp TQL, ngất đi mỗi lần nhiệt độ bên trong tăng lũy thừa cái nóng hung hãn của mặt trời bên ngoài, nó ngất xỉu vì ngộp thở và thoát quá nhiều mồ hôi.  Làm sao bây giờ, ở chung với xác chết còn sợ gì hơn.  Thùng sắt quá kín và dày, gọi ai nghe đây.  Tụi mình thay nhau la lên: “Chết…có người chết”, hơi hướm mỗi đứa đâu có bao nhiêu.  Tất cả đều vô vọng.  Nắm tay cầm không đủ sức đập vào cửa sắt.  May thay-lúc khác là khốn nạn thay-như Trời bắt tụi nó nghe; tiếng mở cửa nặng nề, nhịp điệu, với câu nói đầu môi;”Địt mẹ có thằng đi đong rồi hả, ông đỡ mệt, đỡ tốn cơm.”  Kệ nó.  Khí trời ngọt ngào thơm phức lùa vào.  Đã quá trời!  Hít cho no, hít để tích trữ, giá có gì chứa được khí trời thì hay biết bao…

         Tự mình xin tiếp tay khiêng TQL ra, nhưng được nó trả lời bằng đôi mắt trợn dọc ngầu đỏ: “Chúng bay ngồi yên, nhúc nhích ông bắn bỏ mẹ.”  Nó xóc nách TQL kéo ra khỏi cửa là đóng sầm lại nhanh nhẹn và thạo nghề.  Không biết TQL ra sao.  Chỉ mười lăm phút sau, nó đẩy TQL vào như cũ, NVB nãy giờ thương bạn mà lo; được phép thốt lên câu: “Mày chưa chết hả, tụi tao mừng.”  Câu nói vừa vô duyên vừa huề vốn vừa tốn không khí, thế mà tụi mình khi đó sao lại chấp nhận được nhỉ?  Thôi thôi, nhớ lại hôm đó tụi mình được một bữa giỗ no nê khí trời.

         Cả bọn tụi mình đồng ý với MTD đưa ra, cấm nói chuyện nhiều.  Cần tiết kiệm không khí để thở.  Không khí không có bao nhiêu, một mét khối cho mỗi đứa nên phải tiện tặn giữ gìn.  Chân lý bi hài thấy rõ ra hơn bao giờ hết: đất nước của mình, bầu trời của mình, thế mà giờ đây không có được, thèm đặt chân lên đất, bò lăn lên cỏ, thèm hớp ngụm khí trời, chưa nói thèm cả mây bay như là chuyện không tưởng, phải không MTD, TQL, NVB, QDT.

         …Huynh đệ chi binh là thế đó, tụi mình cảm động đến rơi nước mắt; khi có một lần nắm cơm muối bẻ đôi ra thấy có mấy con tôm khô, có mẫu đường tán, cỡ bằng lóng tay.  Cái thông minh cứu rỗi của bàn tay anh em nào đó, đã vỗ về dịu bớt cái căng thẳng tâm não: tụi mình không bị lẻ loi, không bị bỏ quên.  Chuyện được thức ăn như thế đâu kéo dài, đã bị phát hiện, cả trại một phen khổ theo.  Chuyện nắm cỏ cho tụi mình cũng không kém, biết sống chịu cái nóng trong thùng sắt, anh em đã len lén kín đáo ném lên ngày một ít, thành một lớp mỏng trên nóc thùng sắt để giảm phần nào cái nóng, tụi mình liên tưởng, như từng nắm đất xót thương tiễn đưa ném đều xuống…

         Chuyện 91 ngày trong thùng sắt của tụi mình nói sao cho hết.  Giờ đây mình ngồi nhớ lại, viết lại, trước là nén hương gởi cho oan hồn QDT đã bị giết trong trại tù VĐ năm 1979, sau làm quà xuân cho NVB đang còn ở quê nhà, cùng nhắn gởi cho MTD ở TX và TQL ở MN mới qua đất Mỹ như mình, để nhớ lại và cùng nhìn lại-đằng-sau-đời-mình có được một chuyện để đời không quên.

         Một chuyện trong nhiều chuyện của nghiệp làm lính, mỗi người mỗi nét riêng, mình ghi lại để góp chung thành chuyện một mùa xuân không bao giờ quên của năm đứa…

 

Kỷ niệm đón xuân tha hương đầu tiên

Chicago, vào xuân Ất Hợi 1995

                        Hồ-Ý