July 24, 2014      06:52

You are here

Văn: Cuộc Đời - Bùi Trọng Căn


Bùi Trọng Căn
61

103

0

1

                    Chuyện đi tìm ý nghĩa cuộc đời từ xa xưa cách nay hơn 2000 năm bên phương Tây đã có triết gia Diogenes ở thành Athens thắp đuốc lang thang ngoài đường để tìm một người sống có ý nghĩa. Cùng thời bên phương Đông có Lão Tử coi xem chuyện đời thường không có ý nghĩa gì chỉ như "vô vi" khi cố gắng tìm hiểu bản thể của vũ trụ. Rồi Trang Tử đặt câu hỏi không biết "mình là bướm hay bướm là mình.

                        Triết gia cổ phương Tây là Aristotle (học trò Plato) được mô tả là người chân tay lẻo khẻo lèo khèo, mắt ti hí mà còn tật nói ngọng, vì thế lúc nào cũng phài diện quân áo chải chuốt để bù lại.Chính các triết gia cổ Hy Lạp này đã viết sách về cách nhìn và phương pháp quan sát vũ trụ, đặt nền móng cho khoa học ngày nay, giúp tìm ý nghĩa cuộc đời cho nhân loại.

                        Rồi vượt khỏi Trung Đông sang bán đảo Ấn Độ cũng có một ông Vua lẩm cẩm kiêm triết gia tên Bindusara. Chuyện kể ông Vua này xin với Vua nước Syrie là Antiochus cố tìm giúp gửi cho ông ta một triết gia Hy Lạp, trong thư nói rõ là cần thứ triết gia Hy Lạp chánh hiệu "con nai vàng". Đề nghị không kết quả vì Vua Antiochus kiếm đâu ra một triết gia để bán.

                        Về đối nội thì ông Vua này cai trị y hệt ông nội của ông nghĩa là tuy có tàn ác đấy nhưng đàng hoàng. Chính lúc đó nhà sư Huyền Quang từ Trung Hoa lưu lạc sang Ấn Độ thỉnh kinh. Đến khi về Tầu sư viết sách kể chuyện về một trại tù khủng khiếp mà truyền thuyết gọi là "địa ngục Acoka", vì nơi này người ta đã dùng mọi cực hình có thể tưởng tượng được để tra tấn tội nhân.

                        Một hôm có một vi thánh tăng làm sao vô cớ bị bắt vô đây rồi bị liệng vào vạc dầu mà không chết, tên cai ngục thấy hiện tượng kỳ dị vội tâu lên Vua, lệnh Vua là không để kể nào sống sót ra khỏi ngục, vì vậy chính tên cai ngục bị liệng vào vạc dầu cho Vua chứng kiến tận mắt.

                        Khi về tới cung điện tự nhiên Vua cảm thấy rất hối hận, ngay lập tức thay đổi hẳn tính nết, Vua ra lệnh phá bỏ khám đường kể trên, thả hết mấy ngàn tù nhân còn biên thư xin lỗi bên địch nữa. Thật là một hành vi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại, sau đóVua chỉ bận áo vàng, không săn bắn, không ăn mặn, chính thức theo đường Bát Chánh Đạo qui y Phật Giáo.Vua đã ngộ hay hiểu ý nghĩa cuộc đời theo một hướng khác. Riêng sử Việt Nam có ghi Vua Lê Thánh Tôn một hôm ngẫu hứng làm hai câu thơ ngạo mạn:

                                    Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt

                                    Gót vàng giậm đạp máy âm dương.

                        Khoa thiên văn cho ta biết nhật, nguyệt, âm, dương tuần hoàn là do lực "hấp dẫn vạn vật" của thiên nhiên như Newton phát biểu hồi thế kỷ trước. Thế mà ông Vua Lê này cố tình hiểu ý nghĩa cuộc đới một cách huênh hoang quá sức, ông siêu hơn cả các khoa học gia ngày nay, ông nghĩ có thể dùng tay chân của một ông Vua (là ông) mà có thể điều khiển tất cả các định luật thiên nhiên vũ trụ.

                        Riêng thời nay có nhiều người lại rơi vào trường hợp rất ngộ nghĩnh, vừa chợt tỉnh ra đang khi ngồi trong chính căn nhà của mình, vật vã khóc lóc y như mới lạc vào một thế giới xa lạ, hay mới tỉnh lại từ một cơn mê quá say. Người này phải định trí tìm lại ý nghĩa cuộc đời sau khi đã sống với các "nhân vật ảo" liền mười năm trong thế giới "ảo" internet, báo chí đã đăng tin "có thật" này ở một tỉnh bên Trung Quốc.

                        Người này là "con một" trong một gia đình được cha mẹ chiều chuộng đã cho phép ngồi liền tù tì trước máy computer quá nhiều năm tháng để gây thành tình trạng rất kỳ lạ vô tiền khoáng hậu như kể trên.

                        Ngược với trường hợp anh chàng này là các khoa học gia ngày nay, họ phải cố gắng đi tìm ý nghĩa cuộc đời cho nhân loại bằng cách vùi đầu khảo cứu để tìm chuyện triết gia Aristotle tưởng tượng vật chất cấu tạo từ nguyên tử thì thực sự có nguyên tử hay không? Cuối cùng với bao khó khăn họ đã mô tả ra được hình ảnh của nguyên tử: gồm nhân ở chính giữa, cùng nhiều điện tử (electron số lượng tùy loại nguyên tố) luôn chạy vòng vòng chung quanh nhân.

                        Đầu tiên họ đặt cho các hạt điện tử thuộc nhóm Leptons, bao gồm luôn các loại hạt "muon" và hạt "tau". Sau này còn biết thêm trong nhóm Leptons có thêm loại hạt "electro-neutrino", loại hạt "muon-neutrino" và loại hạt"tau-neutrino" nữa. Đời thường chúng ta cảm nhận đước các hạt Leptons khi tiếp xúc dòng điện và bị điện dựt.

                        Trong nhân nguyên tử thường có hạt protons (mang điện) và hạt neutrons (không mang điện). Rồi các proton và neutron lại được cấu tạo từ các "siêu hạt" gọi là quarks. Khi quarks phối hợp với nhau, nếu tổng điện lượng của quarks triệt tieu nhau chúng ta có hạt neutron, nếu tổng điện lượng của quarks không triệt tieu nhau chúng ta có proton. Khoa học gia phát hiện được: siêu quarks "lên" (up) mang điện dương +2/3, siêu quarks "hút" mang điện dương +2/3, siêu quarks "đỉnh" (top) mang điện dương +2/3, chúng sẽ kết hợp với siêu quarks "dưới" (down) mang điện âm -1/3, siêu quarks "lạ" (strange) mang điện âm -1/3 và siêu quarks "đáy" (bottom) mang điện âm -1/3.

                        Đến đây với mớ hổ lốn các leptons và quarks, bàn tay bí mật của Thượng Đế đã can thiệp sắp xếp thế nào mà luôn tạo thành các nguyên tử: gồm nhân là các quarks (protons hay neutrons) ở giữa rồi electrons chạy chung quanh. Trong nhân các quarks luôn luôn dính với nhau để làm thành protons và neutrons. Hơn nữa các nguyên tử đã tiếp xúc giao thiệp với nhau như thế nào để phản ứng hóa học có thể xẩy ra. Với nhiều nghiên cứu cùng tìm tòi khổ ài, mới 15 năm trời trở lại đây nhân loại mới biết rõ ràng chính xác phần nào các câu trả lới cho các bí ẩn của thiên nhiên.

                        Các khoa học gia đã tìm được ra 3 loại lực của Tạo Hóa hay Thượng Đế. Điều lạ lùng là tuy lực là những "sóng" vô hình trong thiên nhiên nhưng lại phải mô tả chúng như những hạt hữu hìnhgọi chung là loại Bosons. Đầu tiên là loại lực điện từ đối với các hạt nhiễm mang hay không mang điện: một thí dụ như trường hợp sóng ánh sáng mà khoa học gia giả sử là cấu tạo bao gồm các hạt gọi là quang tử (photon). Tất cả các loại hạt trong nhóm Bosons này đều không có trọng lực (mass).

                        Loại thứ hai là loại lực yếu: lực này tác dụng làm neutrons biến thành protons cùng lúc thải ra leptons. Loại này bao gồm các hạt hữu hình mang tên Z-bosons (không có điện) hoặc loại W-bosons (có điện).

                        Loại thứ ba là loại lực mạnh: chính loại lực này coi như keo dính kết các quarks lại với nhau, nhưng lại được mô tả như các hạt hữu hình mang tên gluons, không mang điẹn và không có khối lượng.

                        Toàn thể các loại hạt hữu hình hay sóng lực vô hình của vật chất đều chịu ảnh hưởng của một lực khác nữa là lực hấp dẫn vạn vật hay đặt trong một môi trường mà các khoa học gia đặt tên là "trường Higgs". Trường này cũng được biểu tượng bằng các hạt Higgs hữu hình mang khối lượng rất lớn, gấp nhiều lần hơn các hạt vật chất khác, các hạt Higgs không mang điện.

                        Như vậy thực sự vật chất trong cuộc đời chúng ta là hữu hình với các nguyên tử được mô tả một cách khoa học, như tưởng tượng của triết gia Aristotle hay vô hình hay ảo giác như các triết gia Lão Trang. Tình huống khoa học mô tả không-thời-gian trong cuộc đời này chẳng khác nào trường hợp một con nhện tự dệt ra mạng nhện. Nói cách khác nếu không có chúng ta cũng không có không-thời-gian quanh ta y hệt chuyện không có nhện sẽ không có mạng nhện. Như vậy muốn xác nhận cảnh vật chung quanh ta là mộng hay thực cũng khó lắm thay.

                        Cách nay hơn 200 năm vật lý gia người MỹGoerge Berkely với lý luận rất khoa học của phương Tây cũng đã lại rơi vào nhận thức với câu hỏi nghi ngờ không biết có phải chính mình là nhện không? Nghĩa là loài người đã tự dệt ra không-thời-gian cho các quan sát khoa học để biến ông từ một khoo học gia xuất sắc trở thành một triết gia

                        Thực ra từ nhiều thế kỷ biết bao bậc uyên bác vẫn luẩn quẩn trong câu hỏi vạn vật quanh ta có thực không, vẫn phải nhận một định đề (không chứng minh dược) là có không-thời-gian nằm ngoài độc lập với chúng ta, rồi tất cả khoa học kỹ thuật mới tiếp nối được. Từ 1920 khi môn vật lý lượng tử ra đời, lúc đó qua các thí nghiệm khoa học lại thu lượm được các kết quả rất lạ lùng.

                        Khi coi vật chất là hạt nó phải có tính chất như một viên đạn, chỉ xuyên thũng được một lỗ duy nhất trên màn hình thôi, thế nhưng khi làm xét nghiệm vật lý nó lại xuyên thủng được những hai lỗ trong cùng thời gian, tức là mang đặc tính của sóng. Theo vật lý lượng tử, vật quá nhỏ không quan sát được hiện ra rất mù mờ hư ảo, chuyên động như ma hay theo đúng "nguyên lý bất dịnh" của Werner Hensenberg.

                        Thí nghiệm của Nicolas Gisin Đại Học Geneve Thụy Sĩ bằng cách xử dụng hai quang tử nối kết nhưng phóng ra xa nhau 7 miles trong sợi quang học: Gisin cho một quang tử phân cực qua gương theo chiều dọc, quang tử kia theo chiều ngang. Ông muốn xem hai quang tử trao đổi thông tin với nhau như thế nào? Kết quả ông ghi nhận thông tin này rất nhanh, khoảng 10.000 lần nhanh hơn tốc độ ánh sáng, kể như là "tức thời" hay "ngay lập tức".

                        Tuy khoa học gia thấy vũ trụ không thể như thế này hay thế khác tùy tiện mà phải tuân theo các điều kiện để "sự sống" xuất hiện. Nhà vật lý vũ trụ Brandon Carter tại Cambridge phát biểu năm 1973 là vũ trụ phải luôn luôn theo các diều kiện của đời sống hay nói rõ ràng hơn, không có sự sống thì cũng không có vũ trụ.

                        Muốn chứng tỏ vũ trụ lệ thuộc sự sống thi căn bản phải nhận sự hiện diện của hai yếu tố: thời gian và không gian. Thế nhưng liệu có thời gian không? Liệu có định nghĩa được thời gian không.

                        Các vũ trụ gia công nhận là không có thời gian độc lập với đời sống, giống như ý niệm của các triết gia và vật lý gia: khi chết không có sự sống sẽ tự động vào cõi vĩnh hằng. Suốt từ thời Issac Newton cho tới thời của cơ học lượng tử, chẳng ai mô tả được bản chất của thời gian hay định nghĩa cho thời gian. Thực sự thời gian chỉ là sự thay đổi vi trí của không gian. Như vậy Thời Gian rõ ràng là không phải là một thực thể để bỏ vào phòng thí nghiệm làm xét nghiệm được.

                        Về không gian chúng ta thường tưởng tượng theo quan niệm của Newton là một khối vuông giới hạn bởi 6 mặt là sáu hình vuông, trong khoảng này là trống rỗng, chuyện này hoàn toàn sai vi theo Einstein với thuyết tương đối vạn vật luôn tùy thuộc vào lực hấp dẫn vạn vật và tốc độ của vật. Khoảng không gian sẽ đàn hồi như một trái banh lúc to lúc nhỏ tùy tốc độ, và trong đó luôn chứa một môi trường cùng các hạt.

                        Vậy khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất của thế kỷ 21 đã xác nhận không-thời-gian không có thực hay cảnh vật chung quanh ta đều là ảo. Chính chúng ta mới là "nhện khùng" chứ không phải Diogenes hay Berkeley, Lão Trang chứng tỏ là các bậc minh triết khi biết mình là bướm để đánh giá chính xác cho Ý Nghĩa Cuộc Đời.

Bùi Trọng Căn

Các Tác Phẩm: Văn