July 28, 2014      09:44

You are here

Văn: Giữa Cõi Trần Ai - La Vĩnh Thái


La Vĩnh Thái
121

10

0

1

 

Từ bệnh viện về, tuy cơn đau vẫn dai dẳng, nhưng cái tò mò sinh hoạt bốn phương, khiến tôi ngồi trước computer, hít dài, thở mạnh một lúc lâu xóa đi cơn choáng váng âm ỷ trong đầu, định thần mở máy. Đây rồi, tôi gặp các bạn trong hội Cao Niên Portland Oregon trong ngày sinh hoạt mừng Sinh Nhật tháng Mười Một năm 2011 này. Lại được chị Khuê Các, phu nhân của anh Căn gởi lên email của Hội Cao Niên. Lại thêm một tài năng nhiếp ảnh nữa. Hội chúng ta có khá nhiều vị Nữ Lưu. Không biết lâu nay chị Mộng Hoa sao lại vắng bặt tin, thơ, ảnh trên email HCN Oregon?.

Qua ảnh Sinh Nhật tôi “gặp” các bạn như anh Trần Văn Minh, anh Tốt, chị Cẩm Tuyến, anh Phú, anh Kiên, anh Thái Kế An v…v… trong album lần nầy cặp “Cựu Giai Nhân – Cựu Tân Lang” Sương Lam – Trần Minh, cắt bánh cụng ly coi thân yêu đáo để, cầu chúc anh chị: - Bách niên giai lão, Tương kính như tân.

 

Một lần trong mùa xuân, tôi đã đến Phố Oregon phía đông nam. Thật là đẹp, trên dốc núi từng hàng hoa đào chồng lên nhau theo tam cấp, phía xa dưới thung lũng, con sông Willamette đang yên tĩnh lặng lờ trôi xuôi, có chiếc cầu cổ kính, chắc từ thời Oregon Trail vắt ngang qua sông, trên sông có chen lẫn hoa đào trong thông xanh cùng những cây phong trụi lá như những chiếc nan quạt xếp đưa lên, không còn mảng giấy nào. Trên đồi xuân có ngàn sắc tươi vui, người xưa có câu thơ “Vạn tử thiên hồng tổng thị xuân” (Vạn tía muôn hồng, ấy là xuân), thật đúng với cảnh này.

 

Có lẽ chị Sương Lam ở trên Phố Núi Oregon, với giòng sông thơ mộng ấy nên viết được những bài “Thiền Nhàn” sinh động, gắn bó cuộc đời trần tục với “Cõi Thiền” xuất thế gian, mỗi tuần một “công án thiền”, không hề trùng lặp. 

 

Tôi, trước đây có người bạn, nay trở thành Sư Ông. Thời trai tráng anh mơ mộng về dòng Danube, dòng xanh lặng lờ bên các cánh đồng nho trĩu trái, với đàn bò chăm chú gặm cỏ trên bình nguyên bao la và vũ khúc Beau Danube nhẹ nhàng êm ái. Mộng đời trai; sẽ có ngày đến thăm dòng Danube.

Chinh chiến ập đến, khoác áo chiến, anh đến vùng hỏa tuyến phía Nam vĩ tuyến 17 đi khắp núi non, đồng bằng Vùng I Chiến Thuật, lăn lóc giữ từng thước đất dưới lằn đạn thù giảo quyệt, hung hăng, hiểm ác. Bẩm sinh tính anh cần cù với bất cứ việc gì đến tay. Anh đọc binh thư đông tây, cổ kim miệt mài rèn luyện áp dụng trong các trận chiến với địch quân, đơn vị anh ngay cả khi phải rút vì địch quân áp đảo vẫn không tổn thất nhiều. Chiến công để lại trên ngực anh rực rỡ.

 

Một lần nghỉ phép anh đến phòng trà nghe nhạc, tướng anh không dữ dằn, dáng cao rắn rỏi nắng sương, chiến công anh nhiều người biết, một vài người đến bàn anh làm thân. Khi tiếng dương cầm bản Beau Danube trổi lên, một vũ nữ đến mời anh, anh ngỡ ngàng trong những bước đầu tiên, lộn nhịp dẫm chân, tới lui loạn xạ, nhưng cô vũ nữ xinh xắn eo thon chân dài quyến rũ, đã giúp anh những bước uốn lượn nhẹ nhàng, nhuần nhuyễn sau 2 đêm ở phòng trà. Những đêm sau khi tiếng nhạc Beau Danube Bleu trổi lên anh tự động mời người vũ nữ, đi những bước, lướt đúng nhịp khoan thai.

 

Tiếng nhạc thánh thót quyến rũ nghe như dòng chảy qua thác nước mơ hồ, bốn bước chân, bốn cánh tay ríu rít, lả lướt, quấn quýt lấy nhau, sàn nhảy như có dầu bôi trơn, tâm hồn vút cao trong niềm vui thăng hoa phấn chấn, với âm thanh dìu dặt êm êm như dòng Danube lặng lờ giữa bình nguyên, có lúc réo rắt như dòng thác đầu nguồn xa xa. Cặp nhảy anh độc chiếm vũ trường, tiếng nhạc dứt, tiếng vỗ tay rào rào dường như ở nơi sân khấu kịch trường. Rời phòng trà Thanh Thanh trong khuôn viên Morin Hotel trên đường Bạch Đằng, anh bước những bước dài khoan khoái bên dòng Sông Hàn lặng lờ mơ ngủ trong đêm. Cho đến một đêm, rượu và cô gái mong manh, mảnh dẻ đã khiến anh say, anh nương vào cô gái để tựa vào bàn rồi anh mê man, cô gái đưa anh về nhà bằng xích - lô.

 

Anh tiêu hết tháng lương trong một tuần nghỉ phép. Nga, vợ anh cho rằng anh đã quá nhiều chiến công do tâm anh khát máu, bây giờ thêm khát gái. Những lần sau, Nga giữ rịt anh ở nhà, nàng tỏ ra quyến rũ trong những đêm vợ chồng lệch chiếu xô giường. Nàng khuyên anh; sát sanh là giới cấm thứ nhất của Nhà Phật, anh phải nên dừng tay. Anh không thể dừng tay giết thù miền Bắc vào tước đoạt quyền tự do miền Nam.

 

Về sau chiến trường bận rộn, những ngày phép của anh ngắn ngủi và Nga không rời anh, khuyên anh giảm bớt những trận đánh, khước từ những cuộc hành quân đẫm máu. Nga giữ anh ở nhà, càng xa lánh chiến trường càng tốt, nàng giữ nguyên vẹn lương tháng của anh. Nhưng anh, không gì giữ anh được, anh quên luôn vũ trường, miệt mài trong chiến trận, để sau cùng thất thế buông súng.

 

Vì những người lãnh đạo Quốc Gia không có chiến lược tự vệ tổ quốc lâu dài, lãnh tụ bỏ rơi trách nhiệm với tổ quốc, với đồng bào, rã ngũ trước khi đồng minh chưa đuối sức, kẹt giữa vũng lầy phản chiến, đoàn người đòi Hòa Bình bất kể danh dự quốc gia. Người lính Mỹ viễn chinh trở về như người thua trận, mặc dầu trận thế không thua.

 

Tất cả đều do toan tính của CS quốc tế do Liên Sô cầm đầu, đổ tiền của vận động tuyên truyền bịp, bôi xấu chính phủ Mỹ, khi chiếm được Đông Dương, họ sẽ lần lượt “giải phóng” toàn miền Đông Nam Á. Cuối cùng, toàn quân buông vũ khí theo lệnh Nguyên thủ quốc gia, vì đồng minh bỏ chạy, ta hết quân lương tiếp liệu, và để tránh cuộc tắm máu sau cùng, tránh thành phố đổ nát hoang tàn, dân lành chết thêm do cái quyết tâm tàn bạo với đồng bào miền Nam. 

 

Khi các thầy tu Phật Giáo mang cờ xí đón Việt Cộng vào thành phố, anh trút bỏ áo chiến trở về với gia đình, bật ngửa khi thấy giòng họ nhà vợ đều là Việt Cộng nằm vùng, những Phật tử anh quen biết, thường gặp mỗi lần về phép, gia đình thường nhờ anh đến Ty Cảnh Sát bảo lãnh khi bị bắt, lại là những “Ông Đặc Ủy” thanh niên Phật Tử đấu tranh “Bảo vệ đạo pháp” để “cách mạng giải phóng” chóng thành công.

 

Ôi thương hải – tang điền!, những người dân chạy về phần đất tự do, phần chết phần bị thương lủi thủi dắt díu nhau, âu sầu trở về quê cũ. Những thương binh trong quân y viện bị tống xuất bất kể thương tích nặng nhẹ, bầu trời đầy mây sầu thống hận. Ngồi chưa ấm chiếu, nằm chưa ấm lưng, gia đình khuyến khích anh “ra trình diện” Ủy ban quân quản Việt Cộng khi đó còn dùng cờ xanh đỏ hai màu.

Làm thân người tù binh hậu chiến, họ trả thù triệt để “những người có nợ máu với nhân dân”, mà anh thì biết bao nhiêu là “nợ máu”!. Bởi thế biết bao nhiêu lao nhục anh phải trải qua.

 

Trong trại cải tạo, ngày thì anh và những người thất thế cùng nhau lao động trước mũi súng cán bộ canh chừng. Khi “trình diện” anh chỉ khai tên họ, danh hiệu đơn vị, số quân. Mấy ngày sau, chính quyền quân quản dùng loa kêu gọi những người làm việc với chế độ cũ, chuẩn bị 10 ngày ăn để tập trung học tập chủ trương “chánh sách của cách mạng”. Anh lên đường với một ít quần áo dân sự, gạo, thức ăn khô. Nỗi lận đận truân chuyên của anh bắt đầu buổi sáng ấy. Xe nhà binh nhồi nhét những người thất thế như anh chạy về phía núi, khi xe dừng, bọn anh còn phải đi sâu thêm vào núi. Các anh phải đốn cây, chặt tre, cắt tranh làm lán trại để ở.

 

Ban đêm dưới ánh đèn heo hắt giữa rừng, đám cán bộ ngồi ghế, trước mặt các anh ngồi dưới đất để nghe tuyên truyền chính sách chủ trương của cách mạng: “Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đã toàn thắng, đất nước VN đã thống nhất, đế quốc Mỹ và bọn tay sai Ngụy quyền đã bỏ chạy theo Mỹ, rồi đây cách mạng vô sản sẽ vùng lên cùng với dòng thác cách mạng thứ ba, sẽ lật đổ hoàn toàn chế độ tư bản Mỹ, xóa tan chế độ tư bản toàn thế giới, những thành phần chạy theo đế quốc Mỹ hãy đợi đấy. Toàn dân ta sẽ tiến nhanh tiến mạnh, tiến lên xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, để thực hiện phân phối công bằng, xóa bỏ bất công người bóc lột người.

 

Chúng ta sẽ ưu tiên sản xuất công nghiệp nặng làm bản lề tiến lên thực hiện cuộc cách mạng sản xuất lớn xã hội chủ nghỉa. Tức nhiên sau công cuộc giải phóng dân tộc thành công, bước đầu chúng ta gặp một ít khó khăn do tàn dư đế quốc để lại, chúng ta đương phấn đấu để ăn no mặc ấm, miền Bắc nước ta đã cơ bản hoàn thành cải tạo xã hội, trong đó chỉ còn 2 thành phần; kinh tế sở hữu toàn dân và kinh tế sở hữu tập thể, tức các loại hình hợp tác xã sản xuất, ta đã cơ bản điện khí hóa nông thôn. Ở thành phố, Ti-Vi được đặt ở nơi nhân dân đến liên hoan ca múa, tha hồ nghe nhạc, xem phim. Đồng chí Lê Duẩn đã nói giải phóng, thống nhất được đất nước sau 5 năm giàu có to. Trước mắt miền Nam còn duy trì 5 thành phần kinh tế; kinh tế quốc doanh, tư bản tư doanh, tư bản dân tộc, kinh tế tập thể và kinh tế cá thể.

 

Về tình hình nước ngoài; - cho đến nay dân tộc Việt Nam là mũi nhọn tiên phong, đánh tan giặc Mỹ, tên đế quốc đầu sỏ thế giới, Việt Nam ta tự hào là tiền đồn của cách mạng vô sản toàn thế giới. Bạn bè năm châu mơ ước được làm người Việt Nam, họ mơ ngủ một đêm, trở dậy thấy mình là người Việt Nam, đó là hạnh phúc đời họ. Trong công cuộc chống tên đế quốc Mỹ đầu sỏ xâm lược, người Việt Nam ta, “ra ngõ thấy anh hùng”.

Trong những ngày lao động họ hô hào “với sức người sỏi đá cũng thành cơm”, khi nắng hạn đến họ nêu cao khẩu hiệu “vét đất lấy nước thay trời làm mưa”. Họ là những “cán bộ”, các anh đều gọi họ thế. Họ bắt các anh tập hát bài “như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” – Mỉa mai thay các anh là kẻ đại bại. Không dừng ở đó, thời gian sau cán bộ đổi giọng “Các anh là lính ngụy, là viên chức của ngụy quyền Sài gòn, là các đảng viên đảng phái phản động chúng tôi đã nắm vững lý lịch từng người một, các anh có nợ máu với nhân dân, các anh phải thành thật khai báo tội ác của mình để cách mạng xem xét khoan hồng”.

 

Các anh bắt đầu những ngày viết lý lịch. Cán bộ xem xét và bắt khai lại chẳng biết là bao nhiêu lần, nghe đồn cán bộ trại về từng địa phương “xác minh” lý lịch của các anh. Anh cũng còn đủ tỉnh táo để lướt qua các chiến công của mình.

Một hôm cán bộ tuyên bố; “- Cách mạng có thể khoan hồng nợ máu của các anh với nhân dân, nhưng tội sống không khoan hồng được.”

Đã có người bị biệt giam, có người bị cùm chân, và rồi cả trại bị cùm bằng một chiếc cùm, mỗi người một chân trong khoanh sắt, cán bộ dùng một cây sắt dài xỏ qua lỗ mỗi chiếc cùm một chân, có người tiểu đại tiện tại chỗ, đến sáng hôm sau mới mở khóa cùm.

 

Như thế đấy, những người lính thất thế trở thành lao động khổ sai. Mùa đông không chăn chiếu, nằm trên sạp cây rét mướt, những người bị cùm chân khổ như phải vào địa ngục, ăn uống đủ cầm hơi thở.

 

Một lần anh khai báo thành thật về một trận đánh của đơn vị anh: Ngày ấy … vào giữa năm 1972, đơn vị anh được lệnh hành quân lùng địch ở một vùng gò nổi mật khu gần bên sông, nơi ấy địch đã phục kích, đánh nhiều trận gây tổn thất các đơn vị bạn. Lần ấy trinh sát thấy bên gò sát bờ tre vào làng, dân chúng đã bỏ chạy hết, có khẩu đại liên 12,7 ly, lá ngụy trang đã héo, thấy ổ đại liên khá rõ, nhưng không thấy xạ thủ, anh chỉ định 9 khinh binh tinh nhuệ, chia 3 tổ, mỗi tổ 2 AR 15, 1 súng M-72, chờ lúc nhá nhem tối, 1 tổ tiếp cận khẩu đại liên, 1 tổ tiếp cận bụi tre, quan sát địch ẩn núp hầm bí mật dưới bụi tre, dùng lựu đạn rút chốt chờ 3 giây thẩy vào hầm, tổ thứ 3 yểm trợ 2 tổ trên, các đại đội phía sau sẽ tiếp ứng.

 

Các tổ tiến công đúng dự định, có hầm ở bụi tre nhưng trống rỗng, họ quay nòng khẩu đại liên lên trời bắn một loạt dài, song chẳng có phản ứng đối phương, cùng lúc pháo tỏa sáng trận địa, tổ trinh sát nhận ra một xác người nằm bên khẩu đại liên. Các toán trinh sát loay hoay tháo súng, đạn khẩu đại liên.

 

Cả đại đội hội ngộ, dùng đèn pile coi kỹ, bên cạnh một lính chính quy Bắc Việt, áo quần có vẻ mới, có gắn cả quân hàm, (một điều ít khi thấy đối với bộ đội miền Bắc), như đã chết, chân được xiềng vào một cọc tre, y tá khám tim mạch, còn thoi thóp, hơi thở yếu do cơ thể mất nước nhiều. Thượng cấp ra lệnh phải bắt sống tù binh để khai thác tin tức sớm nhất. Không mở được khóa xiềng chân, lập tức các chiếc xẻng cá nhân được xử dụng đào gốc tre xiềng chân người lính Bắc Việt, đồng thời chia đại đội bố trí phòng thủ lập bãi đáp cho trực thăng. Ba mươi phút sau trực thăng đến. Anh Bắc quân được đưa lên trực thăng cùng với gốc tre xiềng chân về hậu cứ. Đêm đó đơn vị anh phải nằm lại xóm gò bố trí phòng ngự địch tái chiếm vị trí. Suốt đêm yên lặng, đơn vị anh được lệnh về doanh trại vào buổi sáng.

 

Anh nghiên cứu trận địa, Gò nổi là thung lũng chia đôi bằng dòng sông, bên kia giải đất hẹp hơn bên nầy, được che phủ bởi một rừng tre kìn kịt gai dày, gần quốc lộ, nhưng quân ta không vào được. Ta đã dội bom nhiều lần, kể cả dùng hóa chất khai quang, nhưng chỉ được ít lâu khu rừng tre trở lại nguyên hình. Anh lập kế hoạch xin 2 phi tuần C-130 thả bom xăng, xong thả bom lân tinh. Anh đưa các đơn vị tinh nhuệ trang bị AR-15 và M-72, tiêu diệt địch quân theo miệng hầm có cây cỏ phủ kín rút ra sông, nhưng kế hoạch bị hủy sau khi khai thác tin tức tù binh.

 

Hai hôm sau anh được cấp trên thông báo, người lính Bắc Việt tên Nguyễn văn Thắng, bí danh Hồ Tất Thắng, được phong “quân hàm” trung úy từ cấp thượng sĩ bộ binh, được gắn huy chương anh hùng Quân Đội Nhân Dân trước khi bị bắt 2 ngày. Trước đó trung đoàn của anh ta tại mật khu gò nổi thiệt hại nặng và hầu như hết nhẵn lương thực, phải rút về hậu cứ để bồi dưỡng. Anh được Chính ủy bồi dưỡng “chủ nghỉa Mác –Lê Nin bách chiến bách thắng, cương lĩnh cách mạng của đảng Lao Động Việt Nam, được kết nạp đảng, thề trung với đảng, cương quyết để bảo vệ đảng trong mọi tình huống”. 

 

Do yêu cầu của đảng, “trước mắt” cần anh hy sinh bảo vệ đảng, trước khi hy sinh anh được phong quân hàm trung úy từ cấp bậc thượng sĩ của anh, đồng thời được cấp quân phục và quân hàm mới, gia đình anh sẽ được đảng và nhà nước chăm lo tận tâm. Anh ta tình nguyện xiềng chân vào bụi tre che chắn mặt sau cho anh, nhưng đoạn xích tìm được ở nhà dân gần đó quá ngắn, không thể quan sát địch được, nên anh đã tự nguyện chặt gốc tre, chôn xuống đất, xích chân vào gốc tre, quăng chìa khóa ra xa, quyết tử giữ ổ đại liên bắn chặn để đơn vị rút về vùng an toàn, sau đó đói nhiều ngày ngất xỉu lúc nào không hay.

 

Anh muốn được sống, đợi ngày hết chiến tranh, anh sẽ về thăm mẹ ở làng quê bên dòng sông Đáy hiền lành. Những tưởng sẽ được “cán bộ” vừa lòng về sự thành thật khai báo của mình, nào ngờ vài hôm sau đó, trong lúc đang chờ nhận phần ăn sáng, vệ binh đến dẫn anh lên văn phòng trình diện cán bộ cấp trên. Tại văn phòng, cán bộ ra lệnh anh đứng nghiêm nghe đọc lệnh: “- lệnh còng tay, xiềng chân, biệt giam 3 tháng vì đã dùng giọng điệu châm biếm miệt thị anh hùng quân đội nhân dân Hồ Tất Thắng, đồng chí Thắng tình nguyện giữ đoạn hậu để đơn vị rút về hậu bồi dưỡng sau chiến dịch dài ngày, loại khỏi chiến trường một trung đoàn Mỹ, Ngụy hỗn hợp, đồng chí Thắng đã diệt 2 máy bay lên thẳng ác ôn, bay sát ngọn cây, sát thương các chiến sĩ ta, đồng chí Thắng đã diệt gọn một đoàn tăng địch đuổi theo đơn vị ta - anh đã xử dụng chữ Hồ trong ý đồ mai mỉa Bác Hồ kính yêu của chúng tôi, anh chính là tên ác ôn, tội sống của anh đảng không thể khoan hồng”. Cứ mỗi lần họ điều tra được một chiến công của anh, anh lại chịu thêm cùm, xích, biệt giam.

 

Anh liên tưởng đến film “Cầu Sông Kwai”, trong thế chiến thứ II, phát xít Nhật cũng đã không đày đọa sỉ nhục tù binh trong chiến tranh của họ, như các anh phải chịu với những người đồng bào Cộng Sản đã chiến thắng các anh. Là tù binh hậu chiến, nhưng các anh bị đày đọa tàn ác nhất trần gian. Trong cuộc nội chiến Mỹ, khi miền Bắc đầu hàng, hai miền Nam Bắc chẳng chút thù hận nhau, những nhân viên quân sự miền Bắc vẫn được mang súng, lừa ngựa về quê sản xuất. Trăm cay ngàn nhục, rồi anh cũng nhận được giấy xuất trại với lý do “học tập tốt, lao động tốt, cho về địa phương để tiếp tục quản chế”.

 

Nhà anh xơ xác, dơ dáy bầy hầy, vợ anh phải nuôi heo trong nhà để cải thiện đời sống, các con anh sáng sáng thay nhau xếp hàng mua rau muống, nước lò bún để nuôi heo, vợ anh được thuyên chuyển đến cơ quan mới, mặt dầu gia đình có công cách mạng, nhưng vẫn chịu “chế độ lưu dung”, thỉnh thoảng được cơ quan phân phối một ít thực phẩm, thịt vụn cá ươn, vì chỉ là cán bộ cấp hạ tầng. Tủ sách gia đình, anh đã nhiều năm chọn lọc, nay trống rỗng, vì vợ anh gương mẫu, giao nạp hết văn hóa phẩm “Mỹ - Ngụy” cho Ủy ban nhân dân, một phần khác còn lại, các con anh mỗi đứa một ít, mỗi lần một ít làm kế hoạch nhỏ cho nhà trường, để từ đó sách ra chợ làm giấy gói đồ.

 

Anh không mơ màng về dòng Danube nữa mà ngẫm nghĩ về dòng sông quê hương; từ những giọt nước tí tách trong đá sâu rừng thẳm kết tụ thành những dòng chảy mong manh, rồi từng đoạn từng đoạn kết thành suối thành sông. Mặt nước lặng lờ vô định, mà dưới đáy dòng, tháng ngày lắng đọng phù sa cho bãi bắp nương dâu thêm màu mỡ tốt xanh. Mặt nước lặng lờ gặp biển cả mênh mông, hòa đồng với biển, sóng nước lao chao xô đẩy vào bờ; trông như vĩnh hằng vô định. Có biết đâu dưới lớp hải lưu xô bồ ấy là sự tĩnh lặng thăm thẳm vô cùng. Có ai biết được độ sâu biển cả ?. Chưa, con người thoát ra được tầng khí quyển đi tìm các hành tinh xa xôi hàng ngàn năm ánh sáng, nhưng chưa biết rốn đáy đại dương sâu bao nhiêu, cái gì ở dưới đấy.

 

Trở về từ nhà tù tẩy não, anh ngơ ngơ ngẩn ngẩn, tháng ngày dài dặt trôi qua với những công việc lao động chân tay, tuy ít cực

nhọc như trại tù, nhưng tinh thần anh bị bao vây bởi cờ xí, khẩu hiệu, loa tuyên truyền, họp tổ, họp khóm, họp phường, lao động công ích hằng năm, anh sống trong khối óc tê liệt.

 

Sau cùng anh được hợp tác xã nông nghiệp, do người anh vợ làm chủ nhiệm nhận vào xã viên, công việc anh được giao; - bảo quản kho nông cụ. Ngày đầu anh ngao ngán với một đống tạp nham: cuốc cùn gẫy đai, rựa mẻ trơ trành, cuốc chỉa mất răng, cày mất lưỡi, bừa mất răng, gàu tát nước trụt nan miệng, cây xảy rơm hư, những thứ anh đã dùng khi ở trại tù cải tạo. Anh phải lựa để riêng từng thứ, tuy không phải dang nắng dầm mưa, nhưng phải cần mẫn khéo tay, anh làm việc như kẻ ngồi Thiền, chú tâm không nghĩ đến điều gì khác. Đến phần cuốc cùn, rựa gẫy, anh báo cáo với Chủ nhiệm, đề nghị thủ quỹ xuất 200 đồng để anh đi sửa chữa, chiếc xe đạp, không biết đã vá bao nhiêu mảnh trong ruột, lớp vỏ cũng phải nối, anh cột lên xe dắt đi bộ mất nửa ngày mới gặp lò rèn. Người thợ rèn hẹn 2 ngày đến nhận hàng.

 

Người ta sửa cuốc cùn sức đai gần như mới, rựa cũng thế, như cây rựa mới ra lò, mấy cái cuốc chỉa thêm răng, anh rất mừng và thú thiệt, hợp tác xã chỉ chi 200 đồng, e rằng quá ít đối với công anh thợ rèn. Anh thợ rèn cười, viết giấy nhận 200 đồng, nhưng cho lại anh 100 đồng và nói: - Tôi biết anh là sĩ quan hồi trước cải tạo mới về, anh về biếu thủ trưởng anh 20$, ông phó 10$, anh kế toán 10$. Anh từ chối vì rất sợ việc đó, trên trại cải tạo đã bao nhiều lần nghe giảng giải, cán bộ phải theo gương cần kiệm liêm chính của “Bác Hồ vĩ đại”.

 

Người thợ rèn cười: “- Anh cứ làm theo lời tôi đi, rồi anh sẽ được cử đi sửa chữa nông cụ nhiều lần, anh cứ nói ‘ông thợ rèn gởi bồi dưỡng cà phê thuốc lá cán bộ’, có chó nào chê cứt đâu, anh thiệt thà quá”. Và quả đúng như anh thợ rèn nói, - Chê phân thì không còn là chó, miền Nam còn gì đâu sau giải phóng.

Rồi anh được định cư tại Mỹ theo quy chế nhân đạo. Trước khi làm thủ tục xuất cảnh, vợ anh khẳng định – “Trải qua biết bao gian khổ, đổ ra biết bao xương máu mới giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân đế quốc, thống nhất được đất nước, tổ quốc

 

được độc lập, dân tộc được tự do, thử hỏi ‘có gì quí hơn độc lập tự do’ – tại sao lại phản bội tổ quốc, bỏ quê hương xứ sở đi theo bọn đế quốc”. – Anh đã tưởng sẽ yên thân nơi xứ người, nhưng phút cuối vợ anh “thay đổi lập trường” theo anh qua tận xứ Đế Quốc.

 

Những Nhà tu làm ‘Đặc Ủy thanh niên bảo vệ Đạo Pháp’ năm xưa, sau 1975 lần lượt tham gia “Nông Nhàn để có hạt lúa củ khoai sống hòa đồng trong lòng dân tộc”, trong đó có một vị bị sét đánh chết cháy đen giữa đồng,1 kẻ ‘xấu miệng’ đồn đãi “vì thầy tu trời đánh nên trời đánh thầy tu, nhưng sao trời chỉ đánh có một người ?”. – Trên trại cán bộ nói năm năm giàu có to, sao sau mười năm cải tạo trở về vẫn chưa thấy được cái giàu có sơ sơ thôi ?. Mười năm, một đoạn đường dài của kiếp thế nhân, quê hương rũ rượi, nghèo đói hơn thời “đế quốc Mỹ xâm lược nước ta” .

1 Sách tham khảo. “Hành Trạng Chư Thiền Đức Xứ Quảng”, nhà xuất bản Tôn Giáo, xuất bản năm 2008, trang 143, của thầy Thích Như Tịnh.

Anh không thể hòa nhập trọn vẹn với “Những người H.O.” vì gia đình anh dị thường. Trong cái sầu lắng của anh lại làm anh thêm ngớ ngẩn. Vốn là con trong gia đình Phật giáo, anh đến chùa xin thế phát xuất gia, anh sớm trở thành vị Đại Đức, khi tiếp xúc với anh tôi phải nói – Bạch thầy và xưng đệ tử. Rất khó khăn cho tôi phải gọi như thế với người bạn thân, nhưng ông ta; tỉnh và nghiêm trang trước mặt tôi khi tôi nói – A Di Đà Phật, Bạch thầy, đệ tử xin thỉnh an thầy.

 

Trong dịp ấy tôi đã viết một bài thơ mừng ông ta, ước mong tâm ông ta sẽ lắng đọng như dưới lớp sóng bao la của đại dương, nhưng tôi e rằng đối với Tôn Giáo ông vẫn là người ngơ ngẩn, bởi ông muốn Hành Đạo theo cách Phật Tổ Thích Ca đã làm, người chỉ có ba cái y, một để chầu vua, một để thuyết pháp, khất thực và một cái để mặc ngủ cùng một bình bát đựng thức ăn. Ngủ, nghỉ không quá 3 đêm tại một gốc cây, tránh bá tánh đem lễ vật cúng dường. Tu là Tự giác, gác tha, học cho thấu đạt đạo lý ấy, đem phổ độ chúng sanh buông bỏ tham, sân, si, hỉ, nộ, ái, ố.

 

Tâm được an tịnh thì cõi ta bà đâu có khác gì Niết Bàn. Nhưng đời nay, chùa cần “cầu an, cầu siêu - nhương sao giải hạn” và “cầu U Minh giới xá tội vong nhân trong ngày rằm tháng bảy âm lịch”, đấy là những cơ hội chùa được bá tánh cúng dường tịnh tài - Thí chủ cúng càng nhiều thì phước điền càng rộng lớn. Thiết nghĩ làm những công quả trên mà tâm còn nhiều gút tham sân si, phỏng có ích gì ? Đạo Phật dựa trên triết lý khoa học, những việc như thế chắc trái với những điều Phật đã thuyết giảng. Điều ông ta suy tư là đúng, nhưng thời thế lại cho là ông không thức thời. Liệu Ông ta có yên thân để tu không đây ?.

 

Suối Thanh

(Suối Thanh đã ngộ Giác Trần,

Mừng Thầy xin kính mấy dòng giao duyên)

Kể từ phố núi đèo cao,

Nhớ thương theo hết mây bay lên ngàn

Mưa rừng suối chảy loanh quanh,

Từ trong cốc thẳm đổ ra biển ngàn,

Sông qua rừng cổ, lũng xa,

Nghe đêm cổ tích từ dòng đào nguyên,

Rằng xưa, từ thưở lâu xưa...

Biết chi mà nói sông xưa lối nào,

Tìm trong huyền hoặc hư vô,

Nghe trên cổ thụ, cú rừng kêu khuya,

Cỏ rừng ven thác ướp hương,

Chảy quanh, trôi quẩn trong rừng vô ưu,

Nhiễm trần từ giác Vô Trần,

Ưu đàm cành cội, vươn theo đạo vàng,

Phải duyên sông cứ trôi xuôi,

Ngộ con dốc thẳm, gặp dòng hợp lưu,

Vô tâm ôm ánh trăng vàng,

Cá đàn vô úy giỡn mồi, đùa trăng,

Lặng trông đồng cỏ mơ màng

Xa xa đồng lúa ngát vàng an nhiên,

Phù sa sông lắng bãi bồi,

Biển trần sắc tướng, sông hằng độ thanh.

Sông trần vô tính Giác Trần,

Chân như vô sắc, không hoàn về không.

 

Miên man ký ức về những ngày còn ở quê hương, tiếp tục suy tư những ngày trên xứ Mỹ.

Xin thành tâm cầu chúc quý vị trong hội Cao Niên ta không đau ốm bệnh tật – lúc này tôi mới ý thức sâu sắc câu “sức khỏe quý hơn vàng”. Thấy hình ảnh trên email tôi liên tưởng đến film “Oan, Oan Hồn”, hồn người chết thấy tất cả người sống quanh họ, nhưng người sống thì chẳng thấy họ, chẳng biết họ làm gì. Tôi bây giờ cũng thế.

 

Tiện đây xin kể sơ về sức khỏe của tôi. 23/11/ năm… tôi vào cấp cứu, bác sĩ nói tôi : -“Your lung collapped” họ lập tức thọc một ống sắt có lỗ thông từ xương sườn vào phổi mở thêm đường thở cho tôi. Sau cấp cứu họ có cho tôi một quyển sách nói về những việc cần làm của người khi “pulse and breathing stopped”. Tôi cho đó là quảng cáo không để ý, nhưng khi về nhà bác sĩ gia đình làm hẹn gặp tôi tái khám.

 

Khi tái khám đưa cho tôi mẫu đơn cũng nói về việc đó, rõ ràng hơn: - Khi mạch ngừng nhảy, hơi thở tắt, thì tôi có muốn cứu sinh bằng máy trợ thở và đưa thức ăn vào thực quản để sống tiếp, hay muốn nhận cái chết tự nhiên của tạo hóa, hay cần cấp cứu tối đa. Tôi chọn cái chết tự nhiên. Ở bệnh viện sau khi cấp cứu, họ đưa tôi về giường bệnh, trong đêm 23/11 họ phải chích morphine liều cao để cắt cơn đau cho tôi. Sáng hôm sau, từ phòng bệnh nhìn ra cửa sổ, nắng thu rọi trên lá xanh, vàng, tím, đỏ, đẹp quá, tôi lại quên cái đau dằn vặt thân mình, viết liền một lúc hai bài thơ

 

Đôi Nhạn

Lạc vào giữa đám rừng thu,

Sắc màu huyền ảo non tiên dưới trần

Thanh thanh lấn lướt vàng vàng

Đỏ chen màu tía, ngập ngừng lá rơi.

Vài đôi chim hạc xa xa

Đưa đôi cánh nhịp chèo khơi giữa trời

Mùa thu ảo ảnh sắc màu

Hoa Lau trắng rũ nỗi sầu sắc không.

Thỉnh chuông em tụng kinh chiều

Ngân nga tiếng hạc chuông vàng vang xa

Anh ngồi tựa cửa trông trời

Thương em như thuở mười ba mới về

Thương em cánh én lưng trời

Mang mùa xuân đến, thế - trần thăng hoa,

Duyên tình hội ngộ mượt mà

Cõi nầy tương đắc, sao là Sắc Không ?

Chiều hôm Đôi Nhạn kêu đàn

Bên nhau liền cánh bạt ngàn chân mây

ới trời lá ngậm sương thu

Nhạn dương sải cánh miệt mài yêu thương.

 

Duyên Rơi – Tú Cầu

Lá vàng, lá tím rụng, rơi,

Mấy đàn Hạc Nội kết đoàn xuôi Nam

Bắc cầu giá lạnh thê lương

Lạnh tê nỗi nhớ nàng đi chưa về.

 

Lang thang qua ngõ nhà nàng

Then cài cửa đóng em về phương nao ?

Cây si trồng trước nhà em

Thu phong lá đổ trải vàng lối đi.

 

Có chàng mặc áo nhà Thiền

Gục đầu bên cội cây si thẫn thờ

Đông tàn Thiền – quán qua sông

Dộng cây Thiền Trượng hỏi nàng về chưa

 

Chàng si trải tấm tình si

Nực cười Sư hỏi Nàng về làm chi ?.

Phật duyên không bén Nhân duyên,

Thẫn thờ sư tụng Nam Mô Di Đà.

 

Thu về Hoàng Cúc trổ bông

Nàng may áo cưới cho chàng tình si

“Cưới nàng Hoàng Cúc đi chàng

Duyên em đã bén với A Di Đà”

 

Nhân xưa Phật cũng si nàng

Kiếp nầy Phật Quả Tú Cầu Duyên Rơi

Xuân sau trở lại nhà nàng

Hồng đào rực rỡ vườn nàng đơm bông.

 

Thiền Sư, thiền quán bên thềm

Cởi tà áo cũ treo lên cành đào

Nhập nhằng sắc sắc không không

Niết Bàn chứng quả trên vườn đào hoa.

 

Tất nhiên, hình ảnh người phụ nữ trong Đôi Nhạn là người bạn đời gần 50 năm của tôi, bài thứ hai thì đa đoan lắm; ấy chỉ là trong cơn vừa đau, vừa mơ màng vì dư vị morphine, tôi nghĩ đến một người phụ nữ đoan chính, đa năng tháo vát nhưng rất vị tha nhân ái. - Tôi đến thăm nàng, nhà nàng cửa đóng then cài, trong mơ màng tôi bịa ra một câu chuyện: - Hồi xưa, thật xưa không biết là từ triều vua nào nữa, có một cô công chúa cưng, công dung ngôn hạnh đủ đầy, duy có điều cô không chịu sống kiểu “Khuê Môn Đài Các ”. Nàng công chúa theo các a hoàn tỳ nữ đi hái dâu chăn tằm.

Ở vườn dâu cô gặp một anh chàng nông phu rắn rỏi, nhưng hiền lành chất phác, chàng ta không biết đấy là Công Chúa, nên đối đáp, xử sự tự nhiên theo cách sống dân dã đồng quê và công chúa nhận ra một cảm giác lạ, khi ở trong cung, được mọi người chung quanh lúc nào cũng cung cung kính kính, nơm nớp lo sợ nàng. Nàng sinh lòng cảm mến anh chàng cù mì củ mỉ hiền lành, nhưng coi bộ chẳng sợ trời chẳng sợ đất này. Một ngày kia, nhà vua ban lệnh chỉ kén phò mã cho công chúa, cô không bằng lòng lấy chồng ngoài mong muốn, nhưng lệnh vua cha chẳng thể không tuân. Cô xin vua cha và hoàng hậu cho lập đàn gieo tú cầu, gởi duyên mệnh mình cho số phận. Nhà vua bằng lòng.

 

Thánh chỉ được lính dán khắp nơi định ngày mở hội cho dân chúng biết. Nàng công chúa, tẩn mẩn khéo léo tạo một quả cầu bằng lụa mỏng, bên trong chứa lá dâu khô rất nhẹ. Tú cầu có hình dáng một nửa cái thoi dệt lụa, đầu mũi cầu được dát bạc, thân cầu thêu một con chim Phượng Hoàng bằng chỉ kim tuyến ngũ sắc ống ả, đuôi cầu kết thêm mấy chiếc lông đuôi chim trĩ, coi tuyệt mỹ, Nhà vua cùng Hoàng hậu ưng ý lắm.

 

Vào giờ Thìn ngày mở hội gieo cầu, trai tráng đủ hạng tụ tập phía dưới “Tân Lâu Khuê Các 新樓閨閣” khá cao để công chúa đến đấy gieo cầu. Vào Cát Nhật Thìn Thời, Tú Cầu được gieo theo lệnh vua, cửa màn tân lâu các được vén qua hai bên, đám đông trai tráng đủ hạng dưới Tân Lâu Khuê Các nhìn lên thấy một nàng công chúa xinh hơn trong mộng tưởng của mỗi người. Công chúa liếc mắt nhìn khắp lượt chúng nhân ứng thí, chẳng thấy anh chàng cù mì củ mỉ ở vườn dâu đâu cả, bởi có bao giờ anh điền phu mơ lấy nàng công chúa nào đó làm vợ đâu, anh chỉ biết mỗi một cô bạn gái hái dâu chăn tằm mà thôi!.

 

Bất ngờ nàng công chúa dang tay phóng mạnh quả cầu. Theo gió cùng với lông đuôi chim trĩ, đầu mũi thoi bạt cùng chỉ kim tuyến lấp loáng bay dưới ánh nắng mai trông đẹp lạ lùng. Tú cầu bay thật xa, đám người ứng thí dưới lầu ngơ ngác sững sờ cho cái phận hẩm duyên hiu chờ đợi bấy nay. Tuy bay xa, nhưng rồi cũng phải dừng lại khi hết đà, bất đồ rớt trúng một nhà sư đương di hành trên đường vắng, lính hầu trên Tân Lâu Khuê Các trông thấy, lập tức tế ngựa đón đường đưa nhà sư vào triều, nhà sư chẳng biết chuyện gì xảy ra, miệng vẫn cứ A Di Đà Phật. Vào triều, nhà vua thấy tướng mạo nhà sư oai nghiêm thuần hậu, không đoán được tuổi tác, vì nhà sư thanh tu trường trai tịnh hạnh đã lâu năm. Nhà vua cho biết tự sự, và nhận nhà sư làm phò mã. Nhà sư: “Khải bạch bệ hạ, bần tăng quê mùa xin khải tấu, Đức Thích Ca Mâu Ni khi xưa dạy rằng “Có Tam thiên đại thế giới”.

Thế giới “ta bà” chúng sanh đang hằng hữu, có tam sơn tứ hải nhất phần điền đã thấy bao la rồi, nhưng sao so sánh được với cái bao la ba ngàn thế giới, duy có điều, các cõi ấy chỉ có sự tĩnh lặng vĩnh hằng, không sinh không diệt, vui buồn, luyến ái, hạnh phúc, khổ đau đều không. Chỉ có thế giới đang hằng hữu của chúng sanh nầy, nói nó là cõi ta bà nhưng sinh động tuyệt diệu, có chết nhưng không hết, có sinh, nhưng không vĩnh cửu. Trong vạn vật, con người đệ nhất tinh anh, dụng trí tuệ làm ra ký tự, ghi nhớ, truyền tin các chứng đắc mà vũ trụ hành tinh bao la vô số đều không thủ đắc được cái tinh hoa ấy. Tri thức ấy hằng hữu, tinh tấn từng sát na. Là túi khôn vô biên vô tận ở thế gian, duy có điều, túi khôn ấy kèm theo lòng tham cũng vô cùng vô tận, vạn vật sinh linh hữu tình vô tình khác, làm vật hy sinh cho giống người sinh sống.

 

Đến một đại kiếp sinh vật người dùng trí tuệ để ra được khỏi hành tinh mình ở, tìm trong cõi bao la một nơi như địa cầu, nhưng vô vọng, họ chẳng tìm thấy gì ngoài vô hư mênh mông trong các tinh cầu xa xôi hàng ngàn năm ánh sáng. Trong hằng hà sa hành tinh ấy đã quang chiếu vào địa cầu hằng hà sa sinh linh hữu tình, vô tình, và khi diệt, sinh linh hữu tình, vô tình lại có một dòng quang năng phóng lên các tinh cầu xa xôi, các quang năng ấy đều trở lại thể đồng dạng vi trần, vì vậy Phật nói “Chúng Sanh Bình Đẳng” rồi lại luân hồi trở về trái đất, tùy duyên mà thành người hay vật hoặc cỏ cây, cùng cộng sanh dưới khí mát của bóng đêm và hơi ấm của ánh sáng mặt trời.

 

Giống người nếu tham ngộ vạn vật sinh linh đều có căn tính thiện lành, dụng trí tuệ mình để tương hòa chung sống thì trần thế là cõi cực lạc, nhưng vì chính trí tuệ tuyệt hảo, và chính trí tuệ ấy phát sinh lòng tham nơi loài người, họ dùng trí tuệ để thâu tóm, chiếm hữu tối đa với khả năng họ có được, dẫu họ không cần dùng đến. Họ chế các khí cụ sát hại hàng triệu sinh linh cùng lúc, hơi mát của mặt trăng, khí ấm của mặt trời đều bị nhiễm độc, địa cầu biến thành nơi hoang vu như vũ trụ bao la hoang lạnh.

 

Khải bạch bệ hạ: Chúng sanh hữu tình – vô tình đều có căn lành Phật tánh, buông tâm ác Phật - Tâm xuất hiện, thức ngộ được gốc hỉ, nộ, ái, ố là tìm được cõi Niết Bàn, xả lòng Tham liền vảng sanh Tây Phương ngay tại cõi trần thế nầy. Nếu bệ hạ trị nước, có phép làm cho dân hòa thuận, sống tương ái, an lành thì cái thế giới phàm trần nầy chính là cõi Tây Phương cực lạc đấy, và xin bệ hạ cho bần tăng tiếp tục giữ giới thanh tu, cầu bá tánh khương an, chúc Thánh Quân thiên thọ, mong xã tắc địạ trường, công đức ấy bần tăng thiển nghĩ hơn hẳn là làm phò mã chầu vua hưởng vinh hoa phú quý.”

 

Nhà vua cho rằng nhà sư là hiền tăng chân tu hiếm thấy, bước xuống ngai, vái chào nhà sư như thượng khách, xong cầm tay Nhà sư cầu hỷ xả cho xã tắc – sơn hà, mong nhà sư hoằng pháp lợi sanh.

Nhà sư trở về chùa, công chúa bằng lòng theo sư đúng yết cáo với dân chúng: “sẽ theo về với bất cứ ai nhận được tú cầu, song xin nán lại một tuần trăng”. Trong tuần trăng ấy, trước khi đến chùa công chúa xin phụ hoàng và hoàng hậu chu toàn hôn lễ cho người Điền Phu ở nương dâu với nàng tỳ nữ thân cận, xinh đẹp nết na chẳng thua nàng, và nàng yêu dấu nhất.

 

Từ đó ngôi chùa trên non cao có thêm cái Các Quán Âm cho cô Sãi mới, nguyên là Công Chúa. Sư tu phần sư, sãi tu phần sãi, cầu Quốc Thái Dân An, Hoàng Triều Minh Trị, trăm họ nhà nhà ngày đêm không cần khóa cửa, không lạm sát sinh linh, an vui với cái vừa đủ, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng ích kỷ, vua yêu dân như con, thiên hạ thái bình.

 

Anh chàng khoác áo thiền sư không dám thổ lộ tâm tình vì ngần ngại Phật - Tục đôi đường khó mà hợp nhất. Anh chàng điền phu yêu cô gái hái dâu, đâu có ngờ đó là công chúa, anh được công chúa tác hợp với người tỳ nữ thay công chúa, phải chăng đó là Quả của nhà anh đã nhiều đời vốn nông gia chất phác, làm ra cơm gạo cho đời.

 

Biết công chúa theo Nhà sư về chùa, chàng Thiền chưa dứt niềm ái dục, anh trở lại nương dâu, thấy hoa đào nở, ngỡ là cõi Niết Bàn nên ngồi luôn tại đấy.

 

Câu chuyện mông lung dỗ dành thân thể đang khi đau đớn trở thành bài thơ “Tú Cầu Duyên Rơi”, có chỗ nào bất bình xin chư huynh, tỷ muội tha lỗi, bởi chăng đấy chỉ là những dòng mơ cổ kim lẫn lộn Giữa Cõi Trần Ai nầy.

Ngẫm nghĩ về thân phận mình, tôi lại có một bài thơ nữa.

 

Đông Tàn

(Tâm sự một người già)

 

Ngày thơ tôi lẫm chẫm đi

Có cha mẹ dắt, dì cô ẵm bồng,

Bây giờ tôi lẫm chẫm đi

Tay nương chiếc gậy cái thân lòng khòng.

 

Thều thào tôi thở hơi ra,

Lần từng đoạn ngắn, đếm đường vào không !.

Tiết đông lá rụng cành quang,

Rõ ra nhân thế mờ mờ sương phong.

 

Cây rụng lá, rễ tìm đất ấm,

Kiếp nhân sanh, sanh diệt vô cùng.

Xuân về cây lại nảy mầm

Tôi vào đất lạnh tìm miền chân – như.

 

Cuối đông Tân Mão