July 26, 2014      01:10

You are here

Văn: Nguồn Gốc - Bùi Trọng Căn


Bùi Trọng Căn
56

34

0

1

            Sử Ký Tư Mã Thiên có dành hẳn một chương chép về Nam Việt Úy Đà Liệt Truyện trong đó có tường thuật tường tận rõ ràng về thời gian (từ cả trên trăm năm trước niên kỷ lịch tính từ thời Thiên Chúa giáng sinh) lúc thành lập nên nền tự chủ độc lập của nước Việt tức Việt Nam sau này.

            Nguyên sau khi nhà Tần (Tần Thủy Hòang) đã bình định chiếm hết thiên hạ bèn cướp luôn đất Dương Việt mới đặt Phiên Ngung ra làm ba quận ở phía Nam là Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận ý muốn dùng để làm nơi lưu đầy các tội nhân cho ở chung với người Việt.

            Khi đó tại Nam Việt lại có người họ Triệu tên Đà (tức Triệu Đà) làm quan lệnh đã mười ba năm ở Nam Hải. Kịp tới thời Tần Nhị Thế (là con Tần Thủy Hòang) thì quan úy hay Thái Thú của Nam Hải là Nhâm Ngao ốm sắp chết. Ông ta vội cho người mời Triệu Đà đến mà chăn chối rằng:

            “Tôi nghe nhà Tần làm điều bạo ngược vô đạo thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Qúy (tức thời Hán Sở tranh hùng) đều dấy binh tụ tập quân sĩ tranh dành thiên hạ. Trung Quốc lọan lạc không biết lúc nào mới yên được do đó những người phản Tần đều đứng lên cả. Riêng quận Nam Hải ở nơi xa lánh nên tôi cũng định dấy binh chặn đứt con đường mới phòng bị đợi tình hình thay đổi. Nay gặp lúc ốm nặng cùng xét đất Phiên Ngung thế núi hiểm trở riêng quận Nam Hải đông tây rộng lớn vài ngàn dặm có thể là nơi chủ chốt để lập thành một nước riêng biệt, mà xét bọn trưởng lại trong quận thì không ai có thể bàn việc ấy, nay tôi mời ông tới đây để nói chuyện này”.

            Nghe lời Triệu Đà lập tức truyền hịch cho các quan sở tại rằng: “Quân giặc sắp tới phải chặn ngay đường cùng phải tụ tập quân sĩ để tự bảo vệ”.

            Sau đó Đà dần dần tìm cách giết hết các trưởng lại do nhà Tần đặt cai trị rồi chỉ dùng những người đồng đảng của mình thay thế vào các vị thế quan trọng. Chẳng bao lâu nhà Tần bên Tầu bị diệt, Triệu Đà lập tức lợi dụng thời cơ đánh chiếm luôn hai quận Quế Lâm và Tượng Quận để tự lập làm Nam Việt Vũ Đế.

            Cùng thời bên Tầu là nhà Hán, khi Hán Cao Tổ bình định xong thiên hạ bèn sai Lục Giả mang phù chiếu sang phong Triệu Đà làm Nam Việt Vương (xin đừng lầm với Triệu Quang Phục là thời nhà Tiền Lý bộ tướng của Lý Nam Đế mãi hơn 500 năm sau (5 thế kỷ sau thời nhà Lương bên Tầu) sưng Vương còn gọi là Triệu Việt Vương sau khi bị Bắc Thuộc lần thứ 2) cùng khuyến khích gửi tiếp sứ giả đi lại với Trung Quốc hòa hợp Bách Việt để khỏi gây việc lo ngại biên giới phía Nam.

            Nam Việt (thời đó chưa gọi là Việt Nam) giáp giới với quận Trường Sa của Tầu nhưng thời Cao Hậu (tức Lữ Hậu) cầm quyền lại ra lệnh cấm người Nam Việt không được sang Tầu giao dịch mua đồ kim lọai vàng, sắt. Còn các lòai vật như ngựa, trâu, bò, dê thì chỉ bán cho giống đực (cấm bán con cái). Triệu Đà tức giận nói:

            “Cao Đế (tức Hán Cao Tổ) đã phải phong lập ta làm Vương tại phương Nam này cho cử sứ giả cùng hàng hóa sang thông thương bình thường mà nay Cao Hậu lại nghe lời bọn bầy tôi gièm pha muốn phân biệt là man di, cấm đứt khí vật, như vậy là nghe lời Trường Sa Vương (tức Thái Thú Trường Sa) muốn tiêu diệt Nam Việt để chiếm làm Vua luôn cả đất của ta nữa”.

            Rồi phản ứng lại lệnh trên Triệu Đà lập tức cũng tự tôn sưng lên làm Nam Việt Vũ Đế (không sưng Vương nữa mà sưng là Đế) rồi mang đại quân sang đánh chiếm các ấp thuộc quận Trường Sa (của Tầu) đánh bại hết các quan huyện lệnh Tầu xong rồi mới bỏ về nước.

            Được tin Cao Hậu khẩn cấp sai tướng quân Lâm Hi Hầu mang đại quân sang đánh Nam Việt nhưng gặp thời tiết khắc nghiệt trời nắng khí ẩm quân Tầu bị bệnh dịch chết rất nhiều. Quân Hán không vượt qua được núi Dương Sơn. Được hơn một năm khi Cao Hậu mất thì quân Tầu phải tự bãi binh rút về.

            Nhân dịp này Triệu Đà lại dùng vũ lực uy hiếp mở mang thêm biên giới phía Bắc dùng vàng bạc chiêu dụ Mân Việt Âu Lạc phía Nam bắt phải theo mình. Lãnh thổ đất đai của Triệu Đà (hay Nam Việt Vũ Đế) lúc đó kể có hơn vạn dặm. Triệu Đà bèn dùng xe có cờ tả đạo ra lệnh gọi là “Chế” chẳng kém gì Hoàng Đế Tầu.

            Khi đó Vua Tầu là Hiếu Văn Đế cũng muốn tỏ ý giao hòa đức độ nên cử quan coi huyện Chân Định (là nơi quê hương gốc tổ của Triệu Đà) phải trông nom săn sóc mồ mả tổ tiên, đặt người hàng năm tế lễ thờ cúng gia tộc của Triệu Đà. Đối với anh em gìòng tộc họ Triệu cũng ban ơn cho làm quan to thưởng bổng lộc, cùng xuống chiếu cho Thừa Tướng là Trần Bình cử người sai sứ sang Nam Việt. Bình tâu:

            “Hiện có Lục Giả từ thời tiên đế trước đã đựợc tiến cử và quen thuộc trong việc đi sứ Nam Việt”.

            Vua Hán bèn triệu Lục Giả tới phong làm Thái Trung Đại Phu để  đi sứ sang Nam Việt, Giả cũng mang thư trách cứ Triệu Đà là đã tự lập làm “Đế” (ngang Vua Tầu) mà không chịu phái sứ giả sang báo tin. Lục Giả tới nơi thì Nam Việt Vũ Đế (tức Triệu Đà) làm bộ sợ hãi viết biểu trả lời Vua Tầu như sau:

            “Thần tên là Đà là một kẻ già ở đất man di trình tấu việc trước: Khi Cao Hậu gạt bỏ Nam Việt thần trộm ngờ Trường Sa Vương gièm pha, sau lại nghe tiếp Cao Hậu giết hết họ hảng nhà Đà đào mồ mả đốt hài cốt cha ông Đà, vì vậy mới liều mạng mang quân sang xâm phạm biên cảnh qúy quốc ở quận Trường Sa. Lại nữa phía Đông đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn có vài ngàn người mà cũng đã xưng Vương phía Tây đất Âu Lạc là nước “trần truồng” mà cũng vẫn xưng Vương cho nên lão Thần trộm dùng bậy danh hiệu “Đế” chỉ là để tự mua “Vui” (tuy làm ra vẻ sợ hãi mà rõ ràng thực sự rất “xấc” rất ngạo mạn với Vua Tầu) chứ đâu dám nói tới tai Bệ Hạ”.

            Riêng trong nước Triệu Đà ban chiếu lệnh như sau: “Ta nghe nói hai anh hùng không cùng sống, hai người hiền không cùng ở một đời, vì vậy ta phải biết nhường cho “thiên tử” (Vua Tầu)” vậy. Lục Giả vội vàng về Tầu để báo tin, Hiếu Văn Đế miễn cưỡng cũng phải vui vẻ bằng lòng cho xong chuyện.

            Khi Triệu Đà mất (Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim biên là Triệu Đà thọ hơn trăm tuổi làm Vua 70 năm) mới nhường ngôi cho cháu đích tôn tên là Triệu Hồ (cũng theo Sử Gia Trần Trọng Kim thì con trai trưởng Triệu Đà chính là (Triệu) Trọng Thủy đã “dụ” Công Chúa Mỵ Châu lấy cắp nỏ thần vì vậy mà An Dương Vương mới bị diệt). Hồ lên nối ngôi Vua cùng lấy danh hiệu là Nam Việt Văn Đế tuy nhiên Triệu Hồ không thể có đảm lược bằng được như Triệu Đà. Nhân đó Vua Tầu (nhà Hán) muốn gây áp lực đòi Vua Nam Việt phải sang chầu. Triệu Hồ ngày đêm sắm sửa hành trang muốn đi nhưng Đại Thần (không nói rõ tên nhưng có lẽ là Lữ Gia) can rằng:

            “Từ xưa tiên vương có nói: phụng sự “thiên tử” (của Tầu) cốt không thất lễ thì thôi, không nên nghe lời “dỗ ngon dỗ ngọt” vào chầu, nếu vào chầu mà bị giữ lại không được về, đó là cái thế mất nước đó”. Vì vậy Triệu Hồ phải lấy cớ có bệnh nặng mà không đi chỉ gửi Thái Tử Anh Tề đi thay sang làm ngọai giao.

            Khi Triệu Hồ mất Thái Tử Anh Tề mới được cho về nước để lên nối ngôi (tức là Vua thứ ba của nhà Triệu) nhưng Anh Tề lại là người nhu nhược chỉ ham thích hưởng lạc, không có đức độ hay giết người, hèn kém sợ uy vũ pháp luật của nhà Hán (bên Tâu). Riêng điều đã gây “xỉ nhục” cho ông cha là Anh Tề không giám sưng “Đế” nữa mà chỉ còn giám sưng Vuơng (tức Nam Việt Minh Vương). Ông ta cũng lo sợ quyền thần cùng dân chúng trong nước phản đối bèn đem giấu ấn tín Nam Việt Vũ Đế của Triệu Đà cũng như Văn Đế của Triệu Hồ (do Vua Tầu tấn phong). Thật là quá tầm thường lại nữa khi ở Tràng An thì Anh Tề lấy một người con gái Tầu họ Cù nên khi lên ngôi phong cho bà này làm Hòang Hậu. Mà Cù Thị trước khi về làm vợ Anh Tề đã dan díu với một người Tầu tên là An Quốc Thiếu Quí.

            Khi Nam Việt Minh Vương (tức Anh Tề) mất thì con là Triệu Hưng (con bà Cù Thị kể trên) lên nối ngôi là Triệu Ai Vương tức Vua thứ tư nhà Triệu. Vua Tầu (nhà Hán) rất thâm độc, lập tức sai An Quốc Thiếu Quí làm sứ giả cùng một biện sĩ tên là Ngụy Thần sang Nam Việt, cùng lúc sai tướng Lộ Bác Đức mang quân theo để yểm trợ mục đích dụ và ép buộc Vua Nam Việt cùng Thái Hậu (họ Cù) phải vào “chầu” thiên tử (Tầu) y như một nước chư hầu vậy.

            Vương (nhà Vua) tuổi còn nhỏ còn Thái Hậu lại nối lại tình xưa nghĩa cũ mà thông dâm với An Quốc Thiếu Quí. Triều thần và người dân trong nước Việt đều biết chuyện bậy bạ nhục nhã này, vì vậy Thái Hậu lo sợ có lọạn, ý lại muốn “dựa” vào nhà Hán nên khuyên Vua cùng các quan xin “nội thuộc” nước Tầu, cùng lúc cử sứ giả dâng thư hẹn mỗi ba năm một lần sang chầu, hủy bỏ các cửa ải ở biên giới, bãi bỏ hình phạt cũ (trạm vào chán, cắt mũi) mà theo pháp luật nhà Hán. Thái Hậu họ Cù hân hoan sắm sửa hành lý quà biếu đồ đạc để mang sang Tầu triều cống.

            Lúc đó rất may triều thần nước Việt có Thừa Tướng tên là Lữ Gia ông này tuổi đã nhiều làm Thừa Tướng đã ba đời Vua. Họ hàng Lữ Gia làm quan trưởng lại tới hơn bẩy chục ngừơi, con trai lấy con gái Vua (Công Chúa) con gái lấy con trai anh em nhà Vua, thông gia tòan với tôn thất của Vua, vì vậy nên được người trong nước rất tôn trọng mến phục, dân chúng tin tưởng ở ông cùng nhiểu người tự nhận coi như làm “tai, mắt” cho ông, và ông rất được lòng dân.

            Khi nghe tin Vua và Thái Hậu dâng thư lên Vua Tầu xin thần phục, Lữ Gia mấy lần can ngăn mà vẫn không được lắng nghe. Ông rất giận và có ý làm “phản” luôn luôn nói bị bệnh không vào triều, cùng không tiếp sứ giả Tầu.

            Thái Hậu (họ Cù) lo sợ Lữ Gia gây việc trước mà chưa có dịp để kết tội hay giết ông được bèn cùng một số quần thần bầy mưu mời tiệc rượu rồi triệu gọi Lữ Gia vào triều. Lúc mời rượu Thái Hậu bảo thẳng Lữ Gia là:

            “Nước Nam Việt xin nội thuộc (nước Tầu) là lợi (?) cho nước tại sao tướng quân lại cho là bất tiện và cố ý cản ngăn?”.

            Thấy trong triều đình còn do dự không ai dám ra oai Lữ Gia lập tức đứng dậy bỏ ra ngoài. Thái Hậu giận lắm muốn dằng lấy giáo của thị vệ để đâm Gia, Vua phải ngăn Thái Hậu lại. Lữ Gia bèn đến chia quân của em (hiện làm võ tướng cai quản quân lính trong cung) rồi ngay tức thì cùng một số quan quân nổi lọan.

            Tin tức loan sang Tầu tới tai Thiên Tử (Vua Tầu) nhưng thiên triều nhà Hán rất do dự, cho là Vua Việt và Thái Hậu đã theo Hán rồi thì một mình Lữ Gia làm loạn không đáng phải mang binh sang đánh. Cuối cùng Vua Hán (Tầu) sai Trang Sâm mang hai ngàn người đi sang sứ Nam Việt. Sâm cũng “ngán” muốn từ chối mới trình tâu:

            “Nếu dùng hòa hoãn mà đi thì vài người cũng đủ, còn nếu muốn dùng vũ lực thì hai ngàn người đi cũng không đủ để làm gì.”

            Vì vậy Trang Sâm bị bãi chức. Một quan khác tên Hàn Thiên Thu nguyên trước là Tướng Quốc tiến lên hăng hái tâu:

            “Chiếm lấy nước Việt cỏn con lại có Thái Hậu làm nội ứng nữa. Một mình Lữ Gia đứng lên cản trở thì khó gì. Chỉ trình xin nhà Vua cho tôi hai trăm dũng sĩ thế nào tôi cũng chém được Gia về báo.”

            Thiên Tử (Vua Tầu) liền sai Hàn Thiên Thu (cũng là em họ hàng của Cù Thái Hậu) mang hai ngàn quân sang xâm chiếm nước Việt. Nghe tin dữ, Lữ Gia thông báo cho tòan dân Việt như sau: “Vua (tức Triệu Ai Vương là con của Triệu Minh Vương và bà Cù Thái Hậu) tuổi còn trẻ, còn Thái Hậu lại chính là người Tầu ngoài ra bà ta còn dan díu với sứ giả (Tầu) rồi lúc nào cũng mong muốn “nội thuộc” nước Tầu. Vậy là Thái Hậu chỉ nghĩ đến lợi riêng (cá nhân) mà không nghĩ đến xã tắc lâu dài cho nước Việt Nam cùng gìong họ của nhà Triệu gì cả.”

            Nói đọan Lữ Gia thân hành cầm quân chỉ huy giết Vua cũ (tức Triệu Ai Vương) cùng Cù Thái Hậu rồi đánh đuổi quân Tầu cũng như sứ giả Tầu. Sau đó Lữ Gia tìm con trai trưởng (cũng là con của Anh Tề) nhưng với bà vợ là người Việt tấn phong lên làm Vua mới tước hiệu là Triệu Dương Vương.

            Hàn Thiên Thu mang quân Tầu sang đánh phá nhưng quân Việt do được dân chúng tiếp tế lương thực cùng với Lữ Gia lãnh đạo mở đường, nên đã phá tan cùng diệt được quân Tầu cách Phiên Ngung bốn chục dặm. Tiếp sau Lữ Gia sai người mang sắc phong cờ tiết (của nhà Hán Tầu) sang để ở cửa ải (ý trả lại cho Tầu) cùng đem quân sĩ đóng giữ tất cả các nơi quan trọng hiểm yếu.

            Thiên Tử nhà Hán qúa tức giận phải hạ lệnh cho Lộ Bác Đức làm Phục Ba Tướng Quân mang thủy bộ mười vạn quân Tầu theo ba hướng tiến đánh Phiên Ngung. Mãi một năm sau quân thủy tinh nhuệ của Tầu mới phá được kho lương thực (thóc lúa) của quân Lữ Gia. Tuy vậy quân Việt vẫn cố kiên cường chống giữ mặt trận. Phục Ba Tướng Quân Lộ Bác Đức (Tầu) phải vận dụng hỏa công đốt phá thành quách, Lữ Gia cùng Vua mới mang gia thuộc mấy trăm người lên thuyền chạy ra biển.

            Như vậy nhà Triệu (theo Sử Ký Tư Mã Thiên của Tầu) đã trị vì gây nền tự chủ cho nước Việt Nam gồm tất cả được 90 năm hay gần một thế kỷ tổng cộng hai đời Đế (Triệu Vũ Đế và Triệu Văn Đế) cùng ba đời Vương (Triệu Minh Vương, Triệu Ai Vương và Triệu Dương Vương). Còn theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim thì Triệu Dương Vương cùng Lữ Gia đều bị quân Tầu bắt và giết hại cả, hòan tòan chấm dứt nhà Triệu bên Việt Nam.

            Tuy Lộ Bác Đức dùng quân sự chiếm được nước Việt để “khuất phục” nhưng chỉ mấy chục năm sau tại Việt Nam quân Tầu đã lại bị đại bại nữa do hai nhi nữ (gái Việt) tức là Hai Bà Trưng đánh đuổi quét sạch diệt tan hết (quân Tầu) ra khỏi bờ cõi, để rồi chính thức lên ngôi Vua Việt Nam. Bấy giờ Con Trời (hay Thiên Tử Tầu) đã phải sai một Phục Ba Tướng Quân khác là Mã Viện sang đánh chiếm lại nước Việt, để tiếp nối “cai trị” thêm dân Việt Nam cả gần một ngàn năm nữa.

            Cái tinh thần bất khuất cùng việc làm khác thường của các vĩ nhân như Triệu Đà, Lữ Gia cùng Hai Bà Trưng là “hạt nhân” (seed) tạo nền tảng cho việc lập quốc cùng như giữ nền tự chủ của nước Việt Nam cho tới tận mấy ngàn năm sau này.

            Mà thực ra thì nhân tài kiệt xuất trên thế giới luôn luôn xuất hiện trong mọi lãnh vực trong mọi thời đại dẫn đến biết bao nhiêu là tiến bộ cho rất nhiều dân tộc (hay có thể nói là cho tòan thể lòai người). Thí dụ điển hình bên Anh Quốc năm 1560 (cùng thời với Shakespeare) có một danh nhân ra đời tại Oxford tên Thomas Harriot, năm mới 17 tuổi đã bước chân vào ngưỡng cửa Đại Học. Ông học Toán và (kỹ thuật) ngành đi biển với thầy là Huân Tước (Sir) Walter Raleigh, rồi thực hành mộng viễn du sang Mỹ để đặt chân lên Virginia cùng với những “người di dân đi tìm vàng” năm 1585, nhưng sau đó ông lại trở về Anh bởi vì say mê (passion) Tóan Học và Khoa Học (lúc đó hai nước Anh và Pháp dẫn đầu thế giới trong các lãnh vực này).

            Riêng về Toán Học ông viết cuốn “Praxis” đưa ra phương pháp hay các cách để giải những phương trình đa thức (polynomial equations) và chính ông phát minh ra các dấu như “lớn hơn” ( > ) “nhỏ hơn” ( < ) là các biểu tượng trong cách viết tóan đại số, hay một dấu thực mới lạ ( V ) chỉ căn số bậc hai. Vì không may cho ông là có cùng thời với thiên tài Gallilee ở Ý (Italy) và Johannes Kepler ở Đức (Germany) mà các bản thảo của ông lại không được xuất bản (vì nghèo) nên ông không được ai biết tới.

            Người ta bảo chính Harriot là nhà tóan học đầu tiên dùng thuần các dấu biểu tượng (pure symbolism) để làm cho giản dị nhưng rõ ràng chính xác và cũng do ông đã làm một cuộc “cách mạng” để “dân chủ hóa” (democratizes) tóan học. Vì với các dấu biểu tượng ông đã dẫn đến đại chúng hóa Tóan Học khiến cho ai ai cũng có thể học hiểu và thực hành các phép tinh một cách dễ dàng. Nói một cách nôm na là Tóan Học đã được ông dùng như một lọai “ngôn ngữ” mang phổ biến đến tòan thể nhân lọai.

            Số phận của Harriot cũng gập ghềnh như Triệu Đà nên thời đại đã đẩy đưa ông vào nhiều hòan cảnh oan nghiệt, các thầy học của ông và chính bản thân ông cũng bị nhốt tù trên Tháp Luân Đôn (Tower of London) nhiều lần vì các lọai tội gần như “vu vạ”. Rồi năm 1618 khi ông thầy ruột của ông là Raleigh bi xử chém vì ghép tội phản quốc thì ông sống rất âm thầm với nhiều huyền thọai.

            Ngòai Tóan Học Harriot còn nghiên cứu cả về Thiên Văn vì vậy mà cho tới nay khi các bản thảo viết tay của Harriot được tìm thấy thì nhiều khoa học gia lấy làm tiếc là tại sao ông lại không được xếp lọai ngang với những Gallileo, Kepler hay Tycho Brahe, có lẽ vì ông vẫn còn nghiêng nhiều về các tư tưởng triết học nữa. Nhiều thiên văn gia luôn luôn đồng ý với phát biểu là: nếu không có nền trời xanh mây trắng lững lờ trôi, hay không có cành liễu rủ thì không có thi sĩ với các vần thơ đẹp, cũng như nếu không có bầu trời đêm lấp lánh ánh sao, cùng tinh tò mò cũng như sự chịu khó vất vả đi tìm những “bí mật” “khó hiểu” của thiên nhiên như Harriot và các đồng sự thì khoa thiên văn nói chung cũng không thể phát triển.

            Nhưng Thiên Văn tiến triển mạnh cũng còn do nhờ Tóan Học và Vật Lý suốt từ thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên các khoa học gia đã tin tưởng một cách “mù quáng” trong khỏang hơn ba thế kỷ, suốt từ thời Isaac Newton phát biểu về lực hấp dẫn vạn vật từ năm 1687: nghĩ rằng các “định luật” về vật lý sẽ vĩnh cửu, “bất di bất dịch” không bao giờ suy suyển, đến nỗi Albert Einstein cũng phải bảo: “hiểu biết các định luật Vật Lý giống  như đọc được ý muốn của Thượng Đế”. Vì vậy cho tới ngày nay thiên văn gia đã lại phải vô cùng sửng sốt với câu hỏi là: rất vô lý khi “tin rằng” vật lý khác khoa sinh vật? tại sao sự “tiến hóa” (evolution) lại chỉ xẩy ra riêng cho khoa sinh vật học (biology) chứ không thể xẩy ra cho khoa vũ trụ học (cosmology)? Cho nên trong thập niên đầu của đệ tam thiên niên kỷ này, các thiên văn gia lại phải vô cùng kinh ngạc sững sờ nữa (khi quan sát thiên nhiên vạn vật trong vũ trụ) để công nhận rằng những định luật “căn bản” trong Vật Lý cũng đã lại trở thành “không căn bản” nữa.

            Andreas Albrecht học Vật Lý ở Cornell University rồi làm giáo sư tại University of California ở Davis đã phát biểu: “Có lẽ chúng ta là điên hay “mát giây” hoặc phải trở thành tu sĩ để tin Thượng Đế hơn là phải làm một khoa học gia muốn nghiên cứu hiện tượng tự nhiên để đi tìm kiếm Sự Thật” vì trong khi ông nghiên cứu các định luật vật lý của vũ trụ thì càng theo dõi để giải các phương trình thì càng không thấy lời giải mà ông lại chỉ thấy giống như Alice lạc vào thế giới Thần Tiên. Cũng vì muốn hiểu thấu đáo qua vật lý các hiện tượng thiên văn mà ông đã đi tới một “nghịch lý” mà ông đặt tên là phải dùng “đồng hồ không kim”.

            Trong đời thường bây giờ muốn làm việc gì hay xét nghiệm chúng ta cũng hay nhìn đồng hồ xem hết mấy giờ. Thế nhưng nếu ông lại muốn nghiên cứu hiện tượng ở ngay sau lúc Vụ Nổ Lớn (khởi đầu vũ trụ) mới xẩy ra (1/ triệu tỉ tỉ tỉ giây) thí dụ như tìm kiếm tốc độ sao (stars) lúc đó, dĩ nhiên là khi ấy chưa có đồng hồ như bây giờ, để ông hoàn thành các phương trình vật lý. Albrecht thấy tòan thể vũ trụ lúc đó đã bị nén lại chỉ còn nhỏ bằng một chùm nho thì hoặc là thời gian cũng “bị nén” cùng không gian hoặc là chưa có thời gian? Khi đó “vật chất” còn qúa nhỏ nên ông phải dùng các phương trình của cơ học lượng tử. Rồi nếu cũng theo lý thuyết tương đối của Einstein ghép thời gian với không gian, sẽ dẫn đến một “loại” vũ trụ hoàn toàn khác vũ trụ chúng ta đang sống: hoặc một vũ trụ mà nguyên tử không có protons (nhân) hoặc một vũ trụ mà các hạt (particles) cấu tạo neutrons và protons trong nhân sẽ luôn luôn hủy hoại lẫn nhau. Phương trình cũng dẫn đến kết quả là dù chỉ một viên bi rơi xuống sán nhà thôi cũng cho phát ra năng lượng y như ở một siêu sao nổ (supernova) vậy. Rất vô lý.

            Chúng ta hãy đợi vài chục năm nữa khi các máy gia tốc vĩ đại được chế tạo (tại biên giới Pháp Thụy Sĩ) cùng các máy vi tinh siêu nhanh ra đời thì khi ấy liệu như Einstein phát biểu: nhân lọai có thể đọc được ý kiến của Thượng Đế hay không?

 

                                                                                  Bùi Trọng Căn.        

Các Tác Phẩm: Văn